Không hút thuốc vẫn mắc ung thư phổi: Bác sĩ Bạch Mai chỉ ra những nguyên nhân ít người biết

Ngọc Minh
|

Nhiều người vẫn cho rằng ung thư phổi chủ yếu xảy ra ở người hút thuốc. Tuy nhiên, các bác sĩ ghi nhận những trường hợp không hút thuốc, có lối sống lành mạnh vẫn mắc ung thư phổi.

Không hút thuốc vẫn mắc ung thư phổi

BSCKII. Lê Viết Nam, Viện Y học Hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), cho biết Viện đã tiếp nhận điều trị cho nhiều trường hợp bệnh nhân ung thư phổi không có liên quan tới thuốc lá.

Điển hình là trường hợp một nam bệnh nhân 63 tuổi. Người bệnh không hút thuốc, có lối sống khá lành mạnh nhưng được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến phổi phải, đã di căn xương.

Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy người bệnh mang đột biến EGFR. Đây là một trong những đột biến có thể thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ.

Một trường hợp khác là người bệnh 71 tuổi, mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV, có đột biến EGFR, kèm di căn phổi, xương và não.

Những trường hợp này cho thấy ung thư phổi không chỉ liên quan đến thói quen hút thuốc. Theo các chuyên gia, bên cạnh những yếu tố nguy cơ từ môi trường và lối sống, các thay đổi về gen cũng có thể đóng vai trò trong sự hình thành và phát triển của khối u.

Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu nhưng không phải duy nhất

Theo PGS.TS. Phạm Cẩm Phương, Viện Y học Hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai), ung thư phổi có thể liên quan đến hai nhóm nguyên nhân chính gồm yếu tố ngoại sinh và yếu tố nội sinh.

Trong nhóm yếu tố ngoại sinh, hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu, chiếm khoảng 90% các ca mắc ung thư phổi theo thông tin chuyên gia cung cấp.

Ngoài thuốc lá, nguy cơ mắc bệnh còn liên quan đến phơi nhiễm với một số hóa chất như amiăng, asen, khí radon, ô nhiễm không khí và tiếp xúc với phóng xạ. Điều này cũng lý giải vì sao một bộ phận người không hút thuốc vẫn có thể mắc ung thư phổi.

 - Ảnh 1.

Bác sĩ Cẩm Phương (đứng giữa).

Ở nhóm nguyên nhân nội sinh, các đột biến gen như EGFR, KRAS, ALK... có thể khiến tế bào phát triển bất thường.

Trong đó, với ung thư phổi liên quan đến đột biến EGFR, một số dạng thường gặp gồm mất đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R trên exon 21. Đây là những nhóm đột biến có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng điều trị nhắm trúng đích.

Có yếu tố gia đình, nguy cơ có thể tăng

PGS Phạm Cẩm Phương cho biết ung thư phổi không phải bệnh di truyền trực tiếp. Tuy nhiên, những đột biến gen mang tính chất gia đình có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Người có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi, đặc biệt là cha mẹ hoặc anh chị em, có nguy cơ cao hơn. Theo chuyên gia, nhóm này có thể có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 2-3 lần và được khuyến cáo tầm soát sớm từ tuổi 40.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa tất cả người có người thân mắc ung thư phổi đều sẽ mắc bệnh.

Theo PGS Phương, xét nghiệm gen hiện chủ yếu được sử dụng để định hướng điều trị. Chẳng hạn, khi phát hiện đột biến EGFR, bác sĩ có thể lựa chọn thuốc ức chế tyrosine kinase phù hợp.

Với người khỏe mạnh, hiện chưa có khuyến cáo sàng lọc gen đại trà để phát hiện nguy cơ ung thư phổi. Trong trường hợp gia đình có nhiều người mắc ung thư, người dân có thể cân nhắc xét nghiệm đột biến gen và tư vấn di truyền theo chỉ định phù hợp.

Ung thư phổi giai đoạn đầu thường âm thầm

Một trong những khó khăn của ung thư phổi là bệnh có thể tiến triển trong thời gian dài mà không gây triệu chứng rõ ràng.

Khi khối u phát triển, người bệnh có thể xuất hiện các dấu hiệu như ho kéo dài trên 2 tuần, ho ra máu, đau tức ngực, khó thở hoặc khàn tiếng. Một số trường hợp có thể sụt cân không rõ nguyên nhân, mệt mỏi kéo dài.

Khi bệnh đã tiến triển hoặc di căn, người bệnh có thể xuất hiện đau xương, đau đầu do di căn não hoặc phù vùng cổ, mặt.

Các triệu chứng này không đồng nghĩa chắc chắn với ung thư phổi, nhưng nếu kéo dài hoặc bất thường, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và kiểm tra.

PGS Cẩm Phương cho hay, nếu phát hiện ung thư phổi ở giai đoạn I, khi khối u dưới 4 cm và chưa có di căn, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt khoảng 90%. Trong khi đó, ở giai đoạn III-IV, tỷ lệ này giảm xuống dưới 20%.

Vì vậy, phát hiện bệnh khi còn sớm có ý nghĩa quan trọng trong điều trị.

Ai cần đặc biệt lưu ý?

Các bác sĩ khuyến cáo những người thuộc nhóm nguy cơ cao cần chủ động thăm khám, sàng lọc theo chỉ định, thay vì chỉ chờ đến khi xuất hiện triệu chứng.

Nhóm nguy cơ gồm:

- Người hút thuốc lá trên 20 năm.

- Người có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi.

- Người thường xuyên tiếp xúc với amiăng, khí radon trong công việc.

- Người có tiền sử bệnh phổi mạn tính.

Đặc biệt, với người có tiền sử hút thuốc trên 30 năm, có thể sử dụng chụp CT liều thấp để phát hiện những tổn thương nhỏ, qua đó tăng khả năng phát hiện ung thư phổi ở giai đoạn sớm.

Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Báo lỗi cho Soha

*Vui lòng nhập đủ thông tin email hoặc số điện thoại