Theo đó, ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhận thức về vị trí, vai trò của biển tiếp tục được nâng lên; thể chế, chính sách, pháp luật và quản trị biển từng bước được hoàn thiện; kinh tế biển tiếp tục khẳng định là động lực quan trọng của nền kinh tế; đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được tăng cường.
Bên cạnh những kết quả đạt được, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Thể chế, chính sách, quản trị biển và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn bất cập; kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu; việc quản lý, khai thác không gian biển và nâng cao đời sống một bộ phận cư dân ven biển, hải đảo còn hạn chế.
Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Việt Nam có vùng biển rộng hơn 1 triệu km², gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược và bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực cạnh tranh, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Một trong những nội dung trọng tâm của chuyên đề là những tư duy mới về phát triển quốc gia biển mạnh. Theo đó, Nghị quyết xác định chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đưa biển trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Nghị quyết đồng thời xác định biển là không gian phát triển chiến lược, là nơi hình thành các cực tăng trưởng, các ngành kinh tế và động lực phát triển mới; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho phát triển biển; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia. Các chương trình hành động được yêu cầu phải cụ thể, bảo đảm "5 rõ", gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Về nội dung cơ bản của Nghị quyết, ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết Nghị quyết xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo. Trong đó khẳng định biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu dài gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chính; phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường biển và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng, phát triển quốc gia biển mạnh.
Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cùng 6 nhóm mục tiêu cụ thể về kinh tế; phát triển không gian biển và hạ tầng biển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; văn hóa, xã hội; quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương. Ảnh: Cổng TTĐT Đảng Cộng Sản Việt Nam
Trình bày về nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, tập trung vào tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện thể chế và đổi mới quản trị biển quốc gia; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; đột phá phát triển các ngành kinh tế biển; phát triển đồng bộ hạ tầng biển; bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển; xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về biển.
Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, một trong những nội dung trọng tâm của Nghị quyết là hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và đổi mới quản trị không gian biển quốc gia. Trong đó, quản trị không gian biển được xác định là nội dung cốt lõi, đột phá; quy hoạch không gian biển quốc gia phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa đất liền, biển, vùng trời và các không gian mới, trở thành căn cứ để điều phối phát triển và phân bổ nguồn lực. Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá quốc gia biển mạnh.
Nghị quyết đồng thời xác định phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành, lĩnh vực biển quan trọng; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, ưu tiên nguồn lực cho các dự án trọng điểm có sức lan tỏa. Bên cạnh đó, tăng đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ biển; phát triển dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển, đại dương; xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ quản lý về biển chất lượng cao.
Đối với phát triển kinh tế biển, Nghị quyết đặt trọng tâm đột phá các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các lĩnh vực biển mới. Trong đó, phát triển ngành dầu khí và khai thác tài nguyên, khoáng sản biển; phát triển kinh tế hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển; xây dựng hệ thống cảng biển, đội tàu vận tải biển hiện đại, phát triển dịch vụ logistics hàng hải; phát triển công nghiệp đóng tàu, cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững; phát triển du lịch, dịch vụ biển, năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển xa, biển sâu và các không gian biển mới, hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực; phát triển các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do, đô thị biển và các cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển hiện đại, xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Cùng với đó, Nghị quyết yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; xây dựng văn hóa biển; nâng cao đời sống người dân vùng biển, hải đảo; gắn phát triển quốc gia biển mạnh với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và nâng cao vị thế của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển và đại dương.
Về tổ chức thực hiện, Nghị quyết phân công nhiệm vụ cụ thể cho Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương cùng các cơ quan liên quan. Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, xác định 6 nhóm mục tiêu với 32 mục tiêu cụ thể và danh mục gồm 45 nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình; đồng thời xác định rõ lộ trình, thời gian, nguồn lực, sản phẩm và phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì thực hiện.