Lý do đặc biệt khiến chị Nguyễn Thu Hằng (38 tuổi) quyết định chưa điều trị ung thư là lo sợ ảnh hưởng đến con. Thời điểm phát hiện bệnh, chị đang mang thai bé thứ ba được 5 tháng. Quyết định của chị Hằng khiến nhiều người xúc động.
Ung thư của chị Hằng được xác định đã ở giai đoạn tiến triển. Khối u xuyên qua thành trực tràng, có hạch vùng nhưng chưa phát hiện di căn xa.
Lo lắng cho sự an toàn của con và băn khoăn các phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng đến thai nhi, người mẹ quyết định trì hoãn điều trị ung thư. Chị sinh con an toàn rồi ở nhà chăm sóc con trong 4 tháng.
Đến tháng 4/2026, sau khi sinh con, chị Hằng đi khám. Lúc này, bệnh đã tiến triển đến giai đoạn cT4bN2M0, khối u xâm lấn rộng hơn vào các tổ chức xung quanh. Bệnh nhân được hội chẩn và điều trị hóa xạ trị trước mổ, sau đó tiếp tục hóa trị.

Ca phẫu thuật của chị Hằng đã thành công (ảnh: BSCC)
Tuy nhiên, thể trạng người bệnh ngày càng suy yếu. Sau đợt hóa trị thứ ba, chị xuất hiện những cơn đau dữ dội ở vùng tầng sinh môn, không thể ăn uống, ngủ được và cân nặng chỉ còn khoảng 35 kg.
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Ngoại khoa, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, quyết định dừng hóa trị và tiến hành phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng theo đường bụng - tầng sinh môn.
Khi phẫu thuật, ê-kíp phát hiện khối u đã xâm lấn thành một mảng vào tổ chức trước xương cùng nhưng chưa xâm lấn vào xương.
Ca phẫu thuật diễn ra thành công, người bệnh rời phòng mổ an toàn. Đến ngày thứ năm sau phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể ngồi dậy. Những cơn đau dữ dội trước đó không còn xuất hiện, thể trạng và thần sắc của chị cũng cải thiện rõ rệt.
Kết quả giải phẫu bệnh sẽ tiếp tục được phân tích để đánh giá chính xác diện cắt, từ đó xây dựng kế hoạch điều trị tiếp theo cho người bệnh.
Giữ thai không có nghĩa là ngừng mọi điều trị
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn, trong các hướng dẫn quốc tế hiện nay, phụ nữ mắc ung thư khi mang thai không nhất thiết phải lựa chọn giữa điều trị cho mẹ và bảo đảm an toàn cho con.
Phẫu thuật vẫn có thể được thực hiện trong thai kỳ khi thật sự cần thiết và có chỉ định phù hợp. Một số hóa chất có thể được cân nhắc sử dụng sau 3 tháng đầu thai kỳ. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như nội soi, siêu âm và cộng hưởng từ không tiêm thuốc đối quang từ cũng có thể được áp dụng khi có chỉ định phù hợp.
Một nghiên cứu quốc tế được đăng trên tạp chí The Lancet Oncology năm 2018, tổng hợp dữ liệu của 1.170 phụ nữ được chẩn đoán ung thư trong thai kỳ tại 37 trung tâm y tế thuộc 16 quốc gia, cho thấy ngày càng nhiều phụ nữ mang thai mắc ung thư được điều trị ngay trong thai kỳ, thay vì phải chấm dứt thai kỳ hoặc trì hoãn điều trị đến sau sinh.
Một nghiên cứu khác trên 755 phụ nữ mắc ung thư được hóa trị trong thai kỳ cũng cho thấy, khi hóa trị bắt đầu sau tuần thai thứ 12, tỷ lệ dị tật lớn ở trẻ khoảng 3%, tương đương mức dự kiến trong cộng đồng.
Điều này không có nghĩa hóa trị hoàn toàn không có nguy cơ, nhưng cho thấy quan niệm cho rằng cứ hóa trị là trẻ chắc chắn bị dị tật là không chính xác.
PGS.TS.BS Nguyễn Anh Tuấn khuyến cáo, ung thư trong thai kỳ cần được hội chẩn đa chuyên khoa sớm để cân nhắc phương án điều trị phù hợp với giai đoạn bệnh, tuổi thai và nguyện vọng của gia đình.
"Trong lúc người mẹ chờ con lớn lên từng tuần, khối ung thư có thể không chờ đợi cùng chị. Đôi khi, dũng cảm không phải là chấp nhận từ bỏ mạng sống vì con, mà là bước vào điều trị để giành lấy cơ hội sống cùng con", bác sĩ Tuấn chia sẻ.