Học siêu giỏi, nữ sinh 16 tuổi phải điều trị tâm thần: Vì lý do này

Ngọc Minh
|

Luôn nằm trong nhóm học sinh giỏi, nữ sinh 16 tuổi đặt mục tiêu thi vào trường chuyên. Nữ sinh đã thi đỗ trường chuyên theo nguyện vọng, nhưng sức khỏe tinh thần ngày càng sa sút.

Học giỏi nhưng luôn sợ mình chưa đủ tốt

Nữ sinh 16 tuổi có quá trình phát triển tâm thần - vận động bình thường, nhiều năm đạt học lực giỏi. Em có tính cách trầm, dễ xúc động, gia đình hòa thuận.

Trong thời gian ôn thi vào lớp 10, do mong muốn vào trường chuyên, nữ sinh phải đối mặt với khối lượng học tập lớn. Em bắt đầu căng thẳng, lo lắng chuyện học hành và thi cử.

Ban đầu, nữ sinh khó đi vào giấc ngủ. Có những đêm dù đã học xong nhưng em vẫn trằn trọc không ngủ được. Kèm theo đó là đau đầu, chóng mặt và cảm giác mệt mỏi. Tuy nhiên, em vẫn cố gắng học và cuối cùng thi đỗ vào ngôi trường mình mong muốn.

Sau kỳ thi, những tưởng nghỉ ngơi sẽ giúp các triệu chứng giảm dần, nhưng tình trạng mất ngủ và đau đầu vẫn tiếp diễn.

Khi bước vào lớp 10, nữ sinh thường xuyên lo lắng về việc học, sợ bạn bè không thích mình, thậm chí lo bố mẹ phải tốn tiền cho mình đi học. Đáng chú ý, những lo lắng này xuất hiện dù kết quả học tập học kỳ I vẫn tốt và em không có mâu thuẫn với bạn bè.

 - Ảnh 1.

Bác sĩ chia sẻ thông tin về ca bệnh lâm sàng (ảnh N.M).

Nữ sinh bắt đầu có cảm giác hồi hộp, trống ngực, bồn chồn không rõ nguyên nhân, nhiều lúc không thể tập trung học tập. Tình trạng mất ngủ ngày càng nghiêm trọng, có đêm em thức tới 2-3 giờ sáng vẫn không ngủ được.

Do sợ bố mẹ lo lắng, nữ sinh không chia sẻ tình trạng của mình. Gia đình cũng không biết em đang phải chịu đựng những triệu chứng này.

Theo thời gian, em mệt mỏi nhiều hơn, dễ cáu gắt, ăn uống kém và kết quả học kỳ II giảm sút.

Mất kinh 3 tháng mới phát hiện vấn đề tâm lý

Nữ sinh sau đó bị mất kinh liên tục 3 tháng, kèm chán ăn và buồn nôn. Khi em chia sẻ với mẹ, gia đình lo lắng và đưa con đi kiểm tra.

Kết quả thử thai âm tính. Tại chuyên khoa Sản, bác sĩ không phát hiện thai và theo dõi khả năng u tuyến yên. Tuy nhiên, xét nghiệm và chụp cộng hưởng từ sọ não đều bình thường. Sau khi loại trừ nguyên nhân thực thể, nữ sinh được giới thiệu đến chuyên khoa Tâm thần.

Tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn lo âu . Trắc nghiệm tâm lý cho thấy em có trầm cảm nhẹ, lo âu nặng và căng thẳng nặng; chỉ số IQ ở mức thông minh.

Bệnh nhân được điều trị ngoại trú bằng thuốc kết hợp trị liệu tâm lý, trong đó có liệu pháp nhận thức - hành vi 2 buổi mỗi tuần.

Sau một tháng, nữ sinh giảm lo lắng, căng thẳng, bớt cáu gắt, ngủ ngon hơn, giảm đau đầu và không còn buồn nôn, hồi hộp, bồn chồn.

Sau hai tháng, em gần như không còn lo lắng, ngủ được, kinh nguyệt trở lại và kết quả học tập cải thiện.

Sau 6 tháng, nữ sinh không còn lo âu hay đau đầu, sinh hoạt và học tập bình thường, ngủ tốt, kinh nguyệt đều. Bác sĩ chỉ định dừng điều trị.

Lo âu bình thường khác với rối loạn lo âu

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Trang, Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết lo âu là phản ứng tự nhiên khi con người đối mặt với những tình huống mới hoặc có tính thử thách.

Ở mức độ phù hợp, lo âu có thể giúp học sinh chuẩn bị bài kỹ hơn, tăng tập trung, chủ động tìm giải pháp và nâng cao động lực học tập. Hồi hộp trước kỳ thi, lo lắng khi thuyết trình hay khi chuyển sang trường mới đều có thể là phản ứng bình thường.

Tuy nhiên, khi lo âu kéo dài và bắt đầu ảnh hưởng đến giấc ngủ, sức khỏe, học tập hoặc các mối quan hệ, đây có thể là dấu hiệu của rối loạn cần được đánh giá.

Theo WHO, khoảng 4,1% trẻ 10-14 tuổi và 5,3% thanh thiếu niên 15-19 tuổi có rối loạn lo âu.

Các yếu tố nguy cơ có thể đến từ tính cách dễ lo lắng, khó điều hòa cảm xúc, thiếu tự tin; kỳ vọng quá cao của cha mẹ; áp lực thi cử, thành tích; khó hòa nhập với bạn bè hoặc sử dụng mạng xã hội quá mức.

Cha mẹ cần đặc biệt chú ý nếu trẻ mất ngủ kéo dài, thường xuyên đau đầu, đau bụng không rõ nguyên nhân, giảm tập trung, kết quả học tập sa sút, thu mình, né tránh đến trường hoặc thường xuyên cáu gắt.

ThS Vũ Sơn Tùng, Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, cho rằng cha mẹ cần trở thành người đồng hành thay vì chỉ đóng vai trò dạy bảo.

Nhiều trẻ không chia sẻ khó khăn vì sợ bố mẹ lo lắng. Những câu nói như "ai chẳng gặp chuyện đó" hay "ngày trước bố mẹ cũng thế" có thể vô tình khiến trẻ cảm thấy vấn đề của mình bị xem nhẹ và dần mất niềm tin vào việc chia sẻ.

Vì vậy, bên cạnh việc quan tâm đến điểm số, cha mẹ cần quan sát giấc ngủ, ăn uống, cảm xúc và các mối quan hệ của con. Khi lo âu kéo dài nhiều tuần hoặc ảnh hưởng rõ đến học tập, sinh hoạt, gia đình nên đưa trẻ đến cơ sở chuyên khoa tâm lý hoặc tâm thần để được đánh giá và hỗ trợ kịp thời.

Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Báo lỗi cho Soha

*Vui lòng nhập đủ thông tin email hoặc số điện thoại