Đó chính là ung thư phổi!
Theo số liệu của Globocan 2022, ung thư phổi nằm trong hai loại ung thư có số ca mắc mới cao nhất tại Việt Nam, đồng thời là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở cả nam và nữ. Khoảng 85% bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ, trong khi ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 15%.
Điều đáng lo ngại là đa số bệnh nhân được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn, khiến cơ hội điều trị triệt căn bị thu hẹp đáng kể. Đây cũng là lý do các chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của việc thay đổi chiến lược điều trị theo hướng phát hiện sớm, can thiệp sớm và cá thể hóa cho từng người bệnh.
Điều trị từ trước phẫu thuật để giảm nguy cơ tái phát
BSCKII Lê Viết Nam, Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai , cho biết xu hướng điều trị hiện nay là sử dụng liệu pháp toàn thân ngay từ giai đoạn sớm, bao gồm điều trị tân bổ trợ trước phẫu thuật hoặc điều trị chu phẫu trước và sau mổ.
BSCKII Lê Viết Nam chia sẻ cá thể hóa trong điều trị ung thư phổi.
Nhiều nghiên cứu lâm sàng lớn đã chứng minh hiệu quả của việc kết hợp hóa trị với miễn dịch trị liệu. Đơn cử, nghiên cứu AEGEAN cho thấy tỷ lệ sống không tiến triển sau ba năm đạt khoảng 60%, cao hơn rõ rệt so với điều trị thông thường. Đồng thời, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học tăng gần bốn lần mà không làm gia tăng nguy cơ biến chứng trong quá trình phẫu thuật.
Để lựa chọn được phác đồ phù hợp, người bệnh cần được đánh giá chính xác giai đoạn bằng các phương tiện hiện đại như CT, PET/CT, MRI não kết hợp xét nghiệm sinh học phân tử và hội chẩn đa chuyên khoa.
Bước ngoặt trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ từ lâu được đánh giá là thể bệnh có tiên lượng rất xấu do phát triển nhanh và di căn sớm. Trong gần ba thập kỷ, hóa trị gần như là lựa chọn điều trị duy nhất, trong khi tỷ lệ sống sau 5 năm vẫn dưới 6%.
Theo ThS.BS Phạm Minh Lanh, Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai , sự xuất hiện của liệu pháp miễn dịch kháng PD-L1 đã tạo nên bước ngoặt trong điều trị nhóm bệnh này.
Khi miễn dịch trị liệu được phối hợp với hóa trị ngay từ điều trị bước một và tiếp tục duy trì sau đó, người bệnh có cơ hội kéo dài thời gian sống rõ rệt so với trước đây. Theo các chuyên gia, đây được xem là một trong những thay đổi quan trọng nhất trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ trong nhiều năm qua.
Cá thể hóa điều trị bằng giải mã gen khối u
Bên cạnh miễn dịch trị liệu, điều trị nhắm trúng đích cũng đang mở ra nhiều triển vọng nhờ sự phát triển của các kỹ thuật phân tích sinh học phân tử.
Nếu trước đây việc xét nghiệm chủ yếu tập trung vào các đột biến EGFR hoặc ALK, hiện nay đột biến HER2 cũng được chú ý nhiều hơn. Mặc dù chỉ xuất hiện ở khoảng 2-4% bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến phổi không tế bào nhỏ, đây lại là nhóm bệnh thường tiến triển nhanh và đáp ứng kém với các phương pháp điều trị truyền thống.
PGS.TS Phạm Văn Thái, Phó Viện trưởng Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai , cho biết việc thực hiện các xét nghiệm sinh học phân tử như giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) hay hóa mô miễn dịch (IHC) là điều kiện tiên quyết để lựa chọn đúng phương pháp điều trị.
Theo PGS Thái, các thuốc thế hệ mới thuộc nhóm ADC và TKI có khả năng nhận diện chính xác tế bào ung thư mang đột biến HER2, đưa hoạt chất trực tiếp vào tế bào bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị đồng thời giảm tác động lên các mô lành.
Phát hiện sớm vẫn là "chìa khóa"
Dù miễn dịch trị liệu và liệu pháp nhắm trúng đích đang mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi, các chuyên gia nhấn mạnh hiệu quả của những phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh.
Những người có nguy cơ cao như hút thuốc lá lâu năm, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi nên chủ động khám sức khỏe và tầm soát định kỳ. Phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm không chỉ giúp tăng cơ hội phẫu thuật triệt căn mà còn tạo điều kiện để áp dụng các chiến lược điều trị tiên tiến, góp phần kiểm soát bệnh tốt hơn, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.