Bỏ tiền túi mua từng cây kim, ống nghiệm
Người đi “ngược chiều gió” là GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - khi ấy là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM). Bà theo đuổi một kỹ thuật chưa từng xuất hiện ở Việt Nam và việc này từng bị chất vấn ngay tại kỳ họp Hội đồng Nhân dân TPHCM. Có đại biểu thẳng thắn hỏi: “Sở Y tế có biết bác sĩ Ngọc Phượng đang sản xuất ra con người không?”.
Trong bối cảnh đất nước còn nghèo, chính sách quốc gia tập trung vào “ngừa sinh”, thì việc một thầy thuốc muốn giúp những người mẹ hiếm muộn sinh thêm con bị xem là vô lý, thậm chí nguy hiểm về mặt quan điểm. Nhưng chính từ nghịch cảnh đó, một chương mới của y học sinh sản Việt Nam bắt đầu.
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng (thứ 2 từ phải sang) và ekip trong lần sinh những “em bé IVF” đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: NVCC
GS.BS Ngọc Phượng lựa chọn lĩnh vực hiếm muộn vì thực tế cay đắng mà bà từng chứng kiến mỗi lần khám bệnh. Ở Bệnh viện Từ Dũ, bà gặp không ít phụ nữ bật khóc vì không có con. Họ bị chồng gây áp lực, bị gia đình chồng ép ly hôn. Mọi tội lỗi đều đổ lên đầu người phụ nữ, dù y học đã chứng minh vô sinh không chỉ là lỗi từ một phía.
“Nỗi đau đó lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tôi tự hỏi tại sao mình không làm gì cho họ? Năm 1984, trong một chuyến đi nước ngoài, tôi đọc tài liệu và đến các trung tâm y khoa ở Bangkok (Thái Lan). Ở đó, thụ tinh trong ống nghiệm đã được thực hiện thành công suốt 5 năm. Người không thể có thai tự nhiên vẫn đón hạnh phúc được làm mẹ. Điều đó thôi thúc tôi đem bằng được kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm về Việt Nam”, bác sĩ Phượng kể lại.
Thời ấy, đất nước còn rất nghèo, ngành y tế thiếu thốn đủ bề. Những thiết bị phục vụ thụ tinh trong ống nghiệm vừa hiếm, vừa đắt đỏ, gần như nằm ngoài khả năng ngân sách nhà nước.
Ở tuổi 81, bác sĩ Ngọc Phượng cũng bận rộn với lịch khám bệnh, nghiên cứu, giảng dạy. Ảnh: Anh Nhàn
Không trông chờ được nguồn kinh phí công, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng chọn tự mình xoay xở. Năm 1994, bà được phong học hàm giáo sư tại Pháp. Mức lương khi ấy cao hơn rất nhiều so với thu nhập trong nước, nhưng bác sĩ Phượng sống vô cùng giản dị, tự nấu ăn, ở chung với đồng nghiệp để tiết kiệm từng khoản chi tiêu. Phần tiền dành dụm được, nữ bác sĩ dùng để mua từng món thiết bị nhỏ nhất, từ kim hút trứng, ống nghiệm cho đến những máy móc cần thiết nhất.
Song song với việc chuẩn bị trang thiết bị, bà còn xin học bổng từ những hãng dược quốc tế để gửi bác sĩ, kỹ thuật viên Việt Nam sang Pháp, Singapore học tập. Nhân lực được bồi dưỡng âm thầm, kiên nhẫn và bài bản, đặt nền móng cho những bước tiến sau này của y học sinh sản Việt Nam.
“Lúc đó tôi không suy nghĩ gì nhiều, cứ đặt quyết tâm bằng mọi giá phải làm được IVF cho người Việt Nam”, bác sĩ Phượng hồi tưởng.
Khó khăn lớn nhất không phải vì tiền
Năm 1996, chương trình thụ tinh trong ống nghiệm chính thức khởi động tại Bệnh viện Từ Dũ với sự hỗ trợ của các chuyên gia Pháp. Một tập đoàn dược phẩm tài trợ toàn bộ thuốc cho 37 bệnh nhân đầu tiên, chi phí điều trị IVF gần như miễn phí.
“Tìm bệnh nhân không khó vì người hiếm muộn đã chịu quá nhiều đau khổ và đặt trọn niềm tin vào tôi. Khó khăn lớn nhất không phải tiền, mà là sự chấp thuận. Vì tính chất đặc biệt của việc tạo ra con người, hồ sơ phải đi qua nhiều cấp: từ Sở Y tế, UBND TPHCM, Bộ Y tế và cuối cùng là Ban Bí thư, Bộ Chính trị. Chỉ khi có sự đồng ý ở cấp cao nhất, chương trình mới được triển khai”, bác sĩ Phượng kể lại.
Rạng sáng ngày 30/4/1998, ca mổ cấp cứu đầu tiên diễn ra sớm hơn dự kiến vì tim thai suy. Bé trai Mai Quốc Bảo chào đời, nặng 2,7 kg. Vài tiếng sau, hai bé gái khác ra đời - đánh dấu sự sống xuất hiện bằng một kỹ thuật chưa từng có ở Việt Nam.
“Trong số 3 phụ huynh được ẵm con trên tay, có một người cha đã ngoài 50 tuổi. Nghe con cất tiếng khóc chào đời, ông không nói nên lời, chỉ chắp tay cúi lạy tôi. Giây phút đó đã trôi qua mấy chục năm nhưng tôi nhớ mãi không quên”, bác sĩ Ngọc Phượng nói.
Kể từ thời điểm đó tới nay, bác sĩ Phượng đánh giá thụ tinh ống nghiệm ở Việt Nam đã đi một chặng đường dài. Cả nước hiện có gần 70 trung tâm điều trị hiếm muộn, làm chủ tất cả các kỹ thuật hiện đại nhất thế giới, ước tính đã có hơn 20.000 em bé ra đời nhờ IVF.
Việt Nam còn đặc biệt nổi bật với kỹ thuật IVM (trưởng thành trứng trong ống nghiệm) giúp giảm chi phí và phù hợp với phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Không ít người nước ngoài, Việt kiều chọn Việt Nam để làm thụ tinh ống nghiệm.
Nhưng với GS.BS Ngọc Phượng, thành tựu lớn nhất không nằm ở những con số. Bà luôn đau đáu việc người nghèo khó tiếp cận thụ tinh ống nghiệm. “Dù chi phí ở Việt Nam đã thấp hơn rất nhiều so với nước ngoài, vài chục triệu đồng vẫn là quá sức với nhiều gia đình”, bác sĩ Ngọc Phượng bày tỏ.
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng trong một buổi gây quỹ chương trình “Ươm mầm Hạnh phúc”. Ảnh: NVCC
Vì thế, nữ bác sĩ sáng lập chương trình “Ươm mầm Hạnh phúc”. Đây là chương trình miễn phí hoàn toàn cho các cặp vợ chồng có hoàn cảnh khó khăn. Sau 12 mùa, chương trình đã hỗ trợ 700 cặp vợ chồng, đem lại sự sống cho khoảng 400 em bé, với tỷ lệ thành công hơn 60%.
Ở tuổi 81, GS.BS Ngọc Phượng vẫn dậy từ 5 giờ sáng, đưa cháu đi học, rồi tự mình khám bệnh, chủ trì hội nghị khoa học. Bà không có thời gian để giận ai, gặp khó khăn thì… làm tiếp.
“Bây giờ nhìn lại, tôi thấy mình không đủ thời gian để buồn, cứ làm miệt mài ngày này qua ngày khác, cũng không kịp nghĩ nhiều vì mọi thứ cứ thôi thúc, thôi thúc. Có lẽ chính tinh thần ấy đã giúp tôi đi qua nghèo khó và cả những câu hỏi nặng nề như sản xuất ra con người”, vị bác sĩ nói về hành trình nghề y của mình.
Em bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên của Việt Nam bây giờ ra sao?
Sau gần ba thập kỷ, những “em bé IVF” đầu tiên của Việt Nam nay đều đã trưởng thành, khỏe mạnh và có cuộc sống bình dị như bao người trẻ khác.
Mai Quốc Bảo hiện là một chàng trai chững chạc, có công việc ổn định và luôn trân trọng câu chuyện ra đời đặc biệt của mình. Với Bảo, điều quý giá nhất là được lớn lên khỏe mạnh, trong vòng tay yêu thương của gia đình và nhờ sự tận tâm của các y bác sĩ.