Tại Nhật Bản, chương trình tầm soát ung thư đã được tổ chức trong một hệ thống có khung pháp lý, quy trình và tiêu chuẩn chất lượng tương đối rõ.
Tuy nhiên, Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Nguyên Quý, Trưởng khoa Ung thư Nội khoa tại Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren (Nhật Bản), nghiên cứu viên tại Đại học Kyoto, lưu ý rằng tỷ lệ tham gia tầm soát ở nhiều vùng vẫn dưới 50%. Đáng chú ý hơn, ngay cả khi kết quả tầm soát đã dương tính, vẫn có một bộ phận người dân không đi khám chuyên sâu để chẩn đoán thêm.
Ví dụ, Nghiên cứu tại Nhật cho thấy 40-60% người có kết quả FIT dương tính không đi nội soi tiếp vì nhiều lý do: không hiểu tầm quan trọng, sợ đau hoặc tác dụng phụ, thấy xấu hổ, sợ phát hiện ung thư, lo chi phí, chủ quan nghĩ mình khỏe, và quá bận không sắp xếp được thời gian.
"Điều này cho thấy một vấn đề rất quan trọng: tầm soát chỉ là bước đầu. Giá trị của nó chỉ được phát huy khi người có kết quả bất thường được kết nối với bước chẩn đoán và điều trị hiệu quả tiếp theo", bác sĩ Quý cho hay.
Theo bác sĩ Quý nếu người bệnh "mất dấu" ở giữa hai bước, cơ hội phát hiện sớm cũng mất theo.

Trưởng khoa Ung thư Nội khoa tại Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren (Nhật Bản), sáng lập tổ chức Y học Cộng đồng và chuỗi khóa học online và miễn "Thông thái Ung thư" tại Việt Nam.
Việt Nam còn một khoảng trống lớn: Theo dõi sau tầm soát
Với bối cảnh ung thư tại việt Nam TS.BS Phạm Nguyên Quý cho rằng, hệ thống theo dõi sau khám, đặc biệt là khám tầm soát, ở Việt Nam hiện chưa hoàn thiện. Tỷ lệ "mất dấu" sau kết quả bất thường chưa được ghi nhận đầy đủ và cũng không được công khai. Việc gọi điện hoặc nhắn tin cho người có kết quả bất thường hiện còn tùy vào quan hệ cá nhân hoặc nỗ lực của từng nhân viên hay cơ sở y tế.
Điều đó khiến một quy trình gồm nhiều mắt xích trở nên đứt đoạn:
- Người dân được xét nghiệm
- Có người nhận kết quả bất thường
- Nhưng ai chịu trách nhiệm gọi lại?
- Ai kiểm tra xem họ đã đi khám chuyên sâu chưa?
- Nếu chưa đi, ai tiếp tục nhắc?
- Và cuối cùng, hệ thống có biết người đó được chẩn đoán gì hay không?
Nếu không có câu trả lời rõ ràng, việc "đã tầm soát" chưa chắc đồng nghĩa với việc hệ thống đã làm tròn nhiệm vụ.
Một mô hình đề xuất: Quản lý dân số nguy cơ tại tuyến cơ sở
Quý đề xuất một mô hình cho Việt Nam với trục chính là quản lý dân số nguy cơ tại tuyến cơ sở. Mỗi trạm y tế, xã hoặc phòng khám gia đình có thể có danh sách người dân thuộc nhóm nguy cơ dựa trên tuổi tác, nhiễm H.Pylori, HBV/HCV, hút thuốc, tiền sử polyp...
Hệ thống sau đó nhắc người dân tầm soát định kỳ bằng tin nhắn, ứng dụng hoặc cuộc gọi, tương tự cách hệ thống nhắc tiêm chủng. Ở bước đầu, chương trình có thể sử dụng những phương pháp đơn giản, chi phí thấp như:
- Tìm máu ẩn trong phân (FOBT) cho ung thư đại trực tràng
- VIA/VILI hoặc Pap cho ung thư cổ tử cung
- Nhũ ảnh/siêu âm vú theo nguy cơ
- Siêu âm gan định kỳ cho người nhiễm HBV/HCV
Nhưng quan trọng nhất là phải có hệ thống theo dõi (follow-up):
- Nếu FOBT dương tính, hệ thống phải biết người đó đã nội soi hay chưa
- Nếu chưa, phải có cơ chế nhắc và theo dõi, thậm chí nhắc lần 2, lần 3.
BS Quý nhấn mạnh: “Cần coi tỷ lệ mất dấu (lost to follow-up) là một chỉ số chất lượng của chương trình, thay vì xem đó đơn thuần là lỗi của bệnh nhân"
Dữ liệu phải đi cùng người bệnh
Ngoài ra, một mắt xích khác là liên thông bệnh án điện tử ở mức tối thiểu.
"Việt Nam chưa nhất thiết phải triển khai một hệ thống hoàn hảo ngay từ đầu. Hiện nay, có một số bệnh viện đã thí điểm chia sẻ dữ liệu chung gồm ID, chẩn đoán và kết quả thăm khám, thúc đẩy chia sẻ giữa tuyến huyện, tỉnh và trung ương. Rất cần những nền tảng như vậy cho mảng tầm soát các bệnh ung thư trọng điểm, qua đó, cơ sở y tế có thể đối chiếu kết quả khám trước đó, tránh bỏ sót những tổn thương từng được phát hiện”, bác sĩ Quý chia sẻ.
Bác sĩ Quý đề xuất thí điểm đăng ký ung thư tại một số tỉnh, thay vì chờ đến khi có thể triển khai trên toàn quốc. Đây là bước quan trọng vì dữ liệu lớn này sẽ cho biết:
- Nơi nào phát hiện muộn
- Nơi nào có tỷ lệ theo dõi thấp
- Khu vực nào cần được đầu tư thêm

Đầu tư cho tuyến cơ sở và bác sĩ gia đình
Một trong ba khuyến nghị quan trọng nhất của TS.BS Phạm Nguyên Quý trong 5-10 năm tới là đầu tư cho tuyến cơ sở, đặc biệt là bác sĩ gia đình, để họ trở thành "người quản lý” nguy cơ ung thư, cũng như các bệnh mạn tính khác trong cộng đồng.
Vai trò này không chỉ là khám bệnh. Đó còn là:
- Tư vấn thay đổi lối sống
- Nhắc nhở và mời người dân đi tầm soát
- Trả kết quả
- Định hướng chuyển tuyến điều trị
- Đồng hành trong chăm sóc giảm nhẹ khi cần
Cùng với đó là thiết lập hệ thống đăng ký ung thư và quản lý, theo dõi bắt buộc: Mọi ca ung thư cần được ghi nhận; Mọi trường hợp tầm soát dương tính cần được theo dõi; Tỷ lệ mất dấu cần được coi là một chỉ số phản ánh chất lượng và được công khai
Không cần chờ một hệ thống hoàn hảo mới bắt đầu
Theo đề xuất của BS.Quý, Việt Nam có thể thiết kế và thí điểm chương trình tầm soát có mục tiêu trong 2-3 năm tại một số tỉnh, đi kèm hệ thống dữ liệu tối thiểu. Sau khi chứng minh được hiệu quả, khắc phục những vấn đề phát sinh, mô hình sửa đổi, tinh chỉnh sẽ được nhân rộng.
Điểm cốt lõi của cách tiếp cận này là không chạy theo số lượng xét nghiệm hay số lượng máy móc, mà xây dựng một hệ thống có thể đo được các kết quả như: Tỷ lệ tầm soát; Tỷ lệ phát hiện sớm; Tỷ lệ theo dõi sau kết quả bất thường
Bởi trong cuộc chiến chống ung thư, một người được phát hiện bất thường nhưng không được theo dõi đến cùng vẫn có thể trở thành một "ca bệnh bị bỏ lại" giữa hệ thống.
Đó chính là khoảng trống mà Việt Nam có thể bắt đầu bịt lại ngay từ tuyến cơ sở, bác sĩ Quý nêu quan điểm.
Thăm dò ý kiến
Điều gì khiến bạn ngại đi khám sức khỏe nhất?
Bạn có thể chọn 1 mục. Bình chọn của bạn sẽ được công khai.