Bác sĩ người Việt tại Nhật: Phát hiện ung thư sớm không có nghĩa là “khám càng nhiều càng tốt”

Ngọc Minh
|

Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy: muốn giảm tỷ lệ phát hiện ung thư muộn, điều quan trọng không phải là khuyên người dân đi khám càng nhiều càng tốt, mà là xây dựng chương trình tầm soát có bằng chứng khoa học, chi phí hợp lý và dễ tiếp cận cho đông đảo người dân.

Phát hiện sớm giúp ích nhiều, nhưng không phải với mọi loại ung thư

Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Nguyên Quý, Trưởng khoa Ung thư Nội khoa tại Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren (Nhật Bản), nghiên cứu viên tại Đại học Kyoto, cho biết Nhật Bản đã xây dựng hệ thống đăng ký ung thư từ rất sớm. Đăng ký ung thư cấp địa phương bắt đầu từ năm 1951, còn hệ thống Đăng ký Ung thư Quốc gia hoạt động trên toàn quốc từ năm 2016.

Dữ liệu từ hệ thống này cho thấy tỷ lệ sống qua 5 năm của tất cả các loại ung thư tại Nhật hiện khoảng 60–65%. Với nhiều ung thư phổ biến như dạ dày, đại tràng, vú, tử cung, tuyến tiền liệt…, nếu được phát hiện khi bệnh còn khu trú (chưa lan ra ngoài cơ quan), tỷ lệ sống qua 5 năm thường trên 90%. Tuy nhiên, khi bệnh đã di căn xa (lan đến các cơ quan khác), con số này giảm mạnh. Ở giai đoạn di căn, tỷ lệ sống qua 5 năm chỉ khoảng 5-6% ở ung thư dạ dày, khoảng 15-17% ở ung thư đại trực tràng, dưới 10% ở ung thư phổi và khoảng 35–40% ở ung thư vú.

“Điều này cho thấy phát hiện sớm có ý nghĩa rất lớn với nhiều loại ung thư. Tuy nhiên, không phải mọi ung thư đều có thể giải quyết bằng cách phát hiện sớm”, bác sĩ Quý nói. Với ung thư tụy và đường mật, ngay tại Nhật Bản, tỷ lệ sống sau 5 năm vẫn thấp. Một trong những nguyên nhân là chưa có phương pháp phát hiện sớm thực sự hiệu quả cho các loại ung thư này.

 - Ảnh 1.

Phát hiện ung thư sớm có cơ hội chữa lành cao

Thăm dò ý kiến

Điều gì khiến bạn ngại đi khám sức khỏe nhất?

Bạn có thể chọn 1 mục. Bình chọn của bạn sẽ được công khai.

Nhật Bản không chỉ nói “hãy đi tầm soát” chung chung

Theo bác sĩ Quý, Nhật Bản không chỉ kêu gọi người dân “hãy đi tầm soát”, mà còn xây dựng Luật Kiểm soát Ung thư và “Kế hoạch cơ bản thúc đẩy các chương trình kiểm soát ung thư”, với mục tiêu cụ thể về phòng ngừa, tầm soát, đăng ký ung thư và nâng cao tuổi thọ.

Chương trình tầm soát quốc gia tập trung vào 5 loại ung thư chính: dạ dày, phổi, đại trực tràng, vú và cổ tử cung. Lý do không chỉ vì chúng thuộc nhóm ung thư phổ biến nhất hay ác tính nhất mà vì các loại ung thư này đã có bằng chứng khoa học rõ ràng về phương pháp tầm soát đơn giản với chi phí hợp lý; khi áp dụng cho đúng đối tượng, đúng chu kỳ, người ta thấy việc tầm soát giảm được tỷ lệ tử vong ở cấp độ cộng đồng. Vì thế, các chương trình này do chính quyền địa phương tổ chức thực hiện, với quy định rõ về độ tuổi, chu kỳ và phương pháp tầm soát đúng như hướng dẫn của các hiệp hội y khoa chuyên ngành.

“Chẳng hạn, người Nhật trên 40 tuổi nên được xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân hằng năm; nội soi dạ dày nên được thực hiện 2 năm/lần ở những người trên 50 tuổi”, bác sĩ Quý thông tin.

Điểm đáng chú ý là người dân còn được “trợ giá” để đi tầm soát. Điều này rất quan trọng vì thu nhập thấp là một trong những lý do chính cản trở việc tầm soát; phải làm sao cả những người khó khăn về tài chính vẫn có thể tiếp cận chương trình. Các trung tâm y tế địa phương thường gửi coupon đến nhà những người thuộc nhóm đối tượng nên đi tầm soát loại ung thư để họ được giảm giá, thậm chí miễn phí, khi thực hiện tại các cơ sở y tế trong danh sách chỉ định. Để được đưa vào danh sách này, các cơ sở y tế phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Ví dụ, hình ảnh nội soi dạ dày phải được gửi lên ủy ban chuyên môn để kiểm tra lại. Bác sĩ đọc nhũ ảnh (chụp X-quang tuyến vú) cũng phải được đào tạo và vượt qua kỳ kiểm định chất lượng khắt khe.

“Nói cách khác, tầm soát ung thư không chỉ là câu chuyện khuyên người dân đi xét nghiệm nhiều hơn, mà còn là câu chuyện bảo đảm chất lượng của cả quy trình”, bác sĩ Quý chia sẻ. Việt Nam nên tránh vận động phong trào “khuyến khích người dân đi khám tầm soát” trong khi năng lực thực hiện tầm soát tại một số cơ sở y tế chưa đủ chất lượng hoặc chưa có hướng dẫn, kiểm định bởi các tổ chức có chuyên môn.

Số liệu ghi nhận tại một số trung tâm tiêu hóa lớn ở Việt Nam công bố rằng có tới gần 50-60% bệnh nhân khi chẩn đoán ung thư dạ dày đã từng đi nội soi dạ dày trong khoảng 1-2 năm trước đó mà chỉ nhận được kết quả không phải là ung (*). “Vì thế, nếu tầm soát mà để sót bệnh, gây hiểu nhầm thì tác hại khôn lường, thậm chí hủy hoại cả niềm tin của cộng đồng vào chương trình tầm soát quốc gia”, bác sĩ Quý quan ngại thêm.

Bác sĩ người Việt tại Nhật: Phát hiện ung thư sớm không có nghĩa là “khám càng nhiều càng tốt” - Ảnh 1.

Vấn đề của Việt Nam: nguồn lực chưa được dùng đúng chỗ?

Một nghịch lý cũng đang xuất hiện: nhiều người trẻ, ít nguy cơ nhưng lại quá lo lắng nên tự bỏ tiền làm CT toàn thân, siêu âm tuyến giáp hoặc xét nghiệm gene, xét nghiệm máu tìm dấu ấn ung thư như CEA, CA19-9… trong khi nhiều người trên 50–60 tuổi thuộc nhóm cần tầm soát lại chưa từng chụp nhũ ảnh, nội soi dạ dày hay đại tràng.

Không có bằng chứng cho thấy các xét nghiệm như CT toàn thân, siêu âm tuyến giáp hay xét nghiệm máu giúp giảm tỉ lệ tử vong khi dùng để tầm soát ung thư. Đối với những người trẻ, ít nguy cơ thì việc “đầu tư” này không có lợi cho sức khỏe. Trong khi đó, nhiều người mang virus viêm gan B, C mạn tính hoặc đã bị xơ gan vẫn chưa được theo dõi và tầm soát ung thư gan định kỳ dù siêu âm gan là xét nghiệm không quá mắc tiền. Tương tự, nhiều người hút thuốc lá lâu năm cũng chưa được tiếp cận các chương trình tầm soát ung thư phổi phù hợp.

“Nếu các nguồn lực được dồn vào những xét nghiệm chưa/không chứng minh được khả năng cải thiện tiên lượng, trong khi nhóm nguy cơ cao lại chưa được tiếp cận chương trình phù hợp, việc tầm soát ung thư sẽ không có hiệu quả ở mức độ cộng đồng”, bác sĩ Quý nhận định.

Bác sĩ người Việt tại Nhật: Phát hiện ung thư sớm không có nghĩa là “khám càng nhiều càng tốt” - Ảnh 2.

Gợi ý các hướng đi khả thi cho Việt Nam

Việt Nam đã và đang cân nhắc một hướng đi khả thi là xây dựng “Kế hoạch cơ bản kiểm soát ung thư” cấp quốc gia, đặt ra những mục tiêu cụ thể về tầm soát và phát hiện sớm, bắt đầu từ ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Hi vọng rằng các chương trình thí điểm tại một số địa phương sẽ cung cấp thêm những góc nhìn và số liệu hữu ích để phát triển tiếp các chương trình khác trên phạm vi toàn quốc.

Nếu chỉ được chọn ba việc quan trọng trong 5–10 năm tới, TS.BS Phạm Nguyên Quý góp ý rằng trước hết Việt Nam cần:

Triển khai hệ thống đăng ký/ghi nhận ung thư ở cấp quốc gia để theo dõi tình hình phát hiện/chẩn đoán ung thư theo các giai đoạn bệnh và khoảng thời gian khảo sát. Xây dựng và thực thi chương trình tầm soát quốc gia dựa trên bằng chứng giảm tử vong cho 3–6 loại ung thư ưu tiên, gồm gan, phổi, vú, cổ tử cung, đại trực tràng và dạ dày. Mỗi chương trình sẽ xác định rõ tuổi, chu kỳ, phương pháp và cơ sở y tế đủ chuẩn tại mỗi địa phương; chú trọng kiểm soát chất lượng chuyên môn và trải nghiệm người dân thay vì chỉ hô hào đi tầm soát.

“Đây cũng là cách để Việt Nam tránh lãng phí nguồn lực và chuyển từ tư duy ‘khám càng nhiều càng tốt’ sang tầm soát đúng người, đúng bệnh, đúng phương pháp”, bác sĩ Quý nhấn mạnh.

* Nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí y học HCM

Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Báo lỗi cho Soha

*Vui lòng nhập đủ thông tin email hoặc số điện thoại