Cá và hải sản có thể là một phần của chế độ ăn lành mạnh. Tuy nhiên, một số loài tích tụ nhiều methylmercury - dạng thủy ngân hữu cơ - trong phần thịt. Nếu ăn thường xuyên, lượng thủy ngân đi vào cơ thể có thể tăng dần theo thời gian.
Theo Everyday Health, thủy ngân gây hại cho hệ thần kinh. Phơi nhiễm quá mức có thể làm thu hẹp tầm nhìn ngoại vi, gây cảm giác châm chích ở tay chân, suy giảm khả năng nghe, nói và đi lại, yếu cơ hoặc khó phối hợp các cử động.
Thai nhi và trẻ nhỏ đặc biệt nhạy cảm với methylmercury. Chất này có thể ảnh hưởng đến não và hệ thần kinh đang phát triển, từ đó tác động tới trí nhớ, khả năng tập trung, ngôn ngữ, vận động tinh, tư duy và khả năng nhận biết vị trí, khoảng cách.
3 loại cá có hàm lượng thủy ngân cao nhất
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) quy định giới hạn thủy ngân tối đa trong cá dùng làm thực phẩm là 1 ppm.
Ppm là viết tắt của parts per million, nghĩa là phần triệu. Trong phần lớn các loại cá, hàm lượng methylmercury dao động từ dưới 0,01 đến 0,5 ppm. Ba loại cá dưới đây đều có mức thủy ngân trung bình xấp xỉ hoặc vượt 1 ppm.
Cá ngói Vịnh Mexico: 1,123 ppm thủy ngân

Cá ngói Vịnh Mexico (Ảnh: Getty)
Cá ngói đánh bắt tại Vịnh Mexico có hàm lượng thủy ngân trung bình 1,123 ppm, cao nhất trong danh sách do Everyday Health công bố. Mức này đã vượt giới hạn tối đa 1 ppm của FDA
Loại cá này ít chất béo, thịt có vị ngọt giống tôm hùm hoặc cua. Tuy nhiên, do chứa nhiều thủy ngân, người mang thai, đang cho con bú và trẻ từ 1-11 tuổi đặc biệt không nên ăn.
Cá kiếm: 0,995 ppm thủy ngân

Cá kiếm (Ảnh: Black Magic Tackle)
Cá kiếm chứa trung bình 0,995 ppm thủy ngân, chỉ thấp hơn rất ít so với giới hạn 1 ppm của FDA.
Theo Everyday Health, người đang mang thai, chuẩn bị mang thai và trẻ em nên tránh hoàn toàn cá kiếm. Loài cá này cũng được FDA và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) xếp vào nhóm cá cần tránh vì có hàm lượng thủy ngân cao.
Cá mập: 0,979 ppm thủy ngân

Thịt cá mập (Ảnh: Getty)
Hàm lượng thủy ngân trung bình trong cá mập là 0,979 ppm, cũng ở mức rất gần giới hạn tối đa của FDA.
Các sinh vật nhỏ hấp thụ thủy ngân từ môi trường rồi bị những loài lớn hơn ăn thịt. Qua từng mắt xích của chuỗi thức ăn, thủy ngân tiếp tục tích tụ. Vì là loài săn mồi lớn, cá mập thường chứa hàm lượng thủy ngân cao.
Người mang thai, đang cho con bú, dự định mang thai trong vòng một năm và trẻ dưới 6 tuổi không nên ăn cá mập.
Những loại cá nào là lựa chọn tốt hơn?
Theo hướng dẫn của FDA và EPA được NewYork-Presbyterian dẫn lại, danh sách cá cần tránh còn có cá thu vua, cá tráp cam, cá cờ (marlin).
Với phần lớn mọi người, ăn một lượng nhỏ cá chứa nhiều thủy ngân thường không gây vấn đề ngay lập tức. Tuy nhiên, thủy ngân có thể tích tụ trong máu và được đào thải chậm qua nước tiểu, phân và sữa mẹ. Nếu ăn nhiều cá có hàm lượng thủy ngân cao, cơ thể có thể cần tới một năm để nồng độ kim loại này giảm xuống.

Hãy ưu tiên ăn những loại cá và hải sản ít thủy ngân (Ảnh: The Healthy Eating Clinic)
FDA và EPA chia các loại cá ít thủy ngân thành hai nhóm:
Lựa chọn tốt nhất là các loại cá và hải sản có vòng đời ngắn hoặc cá nổi tầng nước mặt như cá hồi, cá ngừ vằn, cá hồi vân, tôm, cá mòi, cá cơm,... Có thể ăn 2-3 khẩu phần các loại hải sản này mỗi tuần.
Lựa chọn tốt gồm cá bơn lưỡi dài (halibut) và cá ngừ trắng albacore đóng hộp, tươi hoặc đông lạnh. Chỉ nên ăn 1 khẩu phần các loại cá này mỗi tuần.
Một khẩu phần cho người từ 11 tuổi trở lên tương đương khoảng 113g. Trẻ từ 1-11 tuổi có thể ăn hai khẩu phần cá mỗi tuần nhưng chỉ nên chọn loại thuộc nhóm “Lựa chọn tốt nhất”.
Khẩu phần dành cho trẻ 1-3 tuổi là khoảng 28g; trẻ 4-7 tuổi là 57g và trẻ 8-10 tuổi là 85g.
Nguồn: Everyday Health, NewYork-Presbyterian