Hội Tim mạch học Việt Nam: Béo phì không chỉ là chuyện cân nặng, mà còn là nguy cơ tim mạch

Trần Anh
|

Béo phì là một bệnh mạn tính cần được điều trị, với mục tiêu cuối cùng là giảm biến cố tim mạch chứ không chỉ giảm cân.

Tại Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20 diễn ra mới đây, GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam đã giới thiệu “Đồng thuận của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2026 về Béo phì và Bệnh tim mạch”. Tài liệu được xây dựng dựa trên sự thống nhất của các chuyên gia đầu ngành tim mạch và các lĩnh vực liên quan, nhằm đưa ra những khuyến nghị dựa trên bằng chứng khoa học về dự phòng và quản lý bệnh tim mạch liên quan đến béo phì.

Việt Nam thuộc nhóm gia tăng thừa cân, béo phì nhanh nhất thế giới

Tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành Việt Nam hiện vẫn thấp hơn nhiều quốc gia và thấp hơn mức trung bình thế giới. Theo tài liệu, năm 2021, tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành 18–69 tuổi, với ngưỡng BMI ≥25 kg/m², là 19,5%.

Tuy nhiên, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ này tăng trung bình khoảng 3,8% mỗi năm trong giai đoạn 2000–2016 và được dự báo tiếp tục tăng khoảng 4,0% mỗi năm trong giai đoạn 2020–2035. Riêng tỷ lệ gia tăng béo phì trong giai đoạn này được dự báo là 6,3% mỗi năm.

Đến năm 2030, ước tính Việt Nam có 18,92 triệu người trưởng thành bị thừa cân – béo phì.

Đáng chú ý hơn, thừa cân và béo phì ở trẻ em, thanh thiếu niên đang tăng rất nhanh.

Trong giai đoạn 2010–2025, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ 5–19 tuổi tăng trung bình 7,9% mỗi năm, thuộc nhóm cao nhất thế giới.

Năm 2025, tỷ lệ thừa cân ở nhóm tuổi này là 20,68%, béo phì là 11,36%, tương ứng khoảng 4,8 triệu trẻ em và thanh thiếu niên từ 5–19 tuổi sống chung với tình trạng thừa cân hoặc béo phì.

Những số liệu này cho thấy Việt Nam đang trải qua quá trình chuyển đổi dịch tễ dinh dưỡng mạnh mẽ. Gánh nặng thừa cân và béo phì gia tăng ở cả người trưởng thành và trẻ em, kéo theo nguy cơ gia tăng các bệnh không lây nhiễm và áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống y tế trong tương lai.

Béo phì làm tăng nguy cơ tim mạch

Theo phần trình bày của GS. Phạm Mạnh Hùng, béo phì là một bệnh mạn tính, đa hệ thống và có xu hướng tái phát, không đơn thuần là vấn đề ngoại hình hay thiếu ý chí.

Mô mỡ dư thừa không chỉ là nơi tích trữ năng lượng mà còn là một cơ quan nội tiết – miễn dịch có hoạt tính, tác động đến chuyển hóa, huyết áp, tình trạng viêm, chức năng nội mô và cấu trúc tim.

Thừa cân, béo phì vừa làm nặng các yếu tố nguy cơ quen thuộc như tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, gan nhiễm mỡ chuyển hóa và ngưng thở khi ngủ; vừa trực tiếp góp phần gây ra các bệnh tim mạch như bệnh tim mạch do xơ vữa, suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch và một số bệnh van tim.

Từ mô mỡ dư thừa đến bệnh Tim mạch - Ảnh: Hội Tim mạch học Việt Nam

Đặc biệt, béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với suy tim. Tình trạng này làm tăng tốc độ chuyển hóa, tăng nhu cầu lên hệ tim mạch và làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành do xơ vữa, từ đó có thể dẫn đến suy tim do nguyên nhân thiếu máu cục bộ.

Ở người đã suy tim, béo phì liên quan với chất lượng cuộc sống kém hơn, nhiều triệu chứng hơn, khả năng gắng sức thấp hơn và nhập viện vì suy tim thường xuyên hơn. Mức độ tích tụ mỡ lớn hơn cũng liên quan với nguy cơ nhập viện cao hơn, triệu chứng nặng hơn và chất lượng cuộc sống kém hơn.

BMI không nói lên tất cả

Theo GS. Phạm Mạnh Hùng, việc đánh giá béo phì không nên chỉ dựa vào cân nặng hoặc BMI.

BMI vẫn hữu ích để sàng lọc, nhưng cần xem thêm vòng eo, phân bố mỡ, thành phần cơ thể, bệnh đồng mắc, giai đoạn bệnh và tổn thương cơ quan đích. Cách tiếp cận này giúp tránh bỏ sót những người có mỡ nội tạng cao dù BMI chưa quá cao và hỗ trợ lựa chọn mục tiêu điều trị phù hợp hơn.

Theo phân loại được sử dụng trong thực hành ở người trưởng thành Việt Nam trong tài liệu, BMI dưới 18,5 là thiếu cân; 18,5–22,9 là bình thường; 23–24,9 là thừa cân; từ 25 trở lên là béo phì.

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng trình bày Đồng thuận

Giảm cân không còn là đích cuối cùng

Từ các đánh giá nói trên, các chuyên gia Hội Tim mạch học Việt Nam cho rằng, mục tiêu điều trị đang chuyển từ việc chỉ quan tâm “giảm được bao nhiêu kg” sang cải thiện sức khỏe và kết cục lâm sàng.

Điều trị hướng tới giảm lượng mô mỡ dư thừa, cải thiện chức năng cơ quan, kiểm soát bệnh đồng mắc, giảm nguy cơ biến cố tim mạch, đồng thời cải thiện triệu chứng, khả năng vận động và chất lượng cuộc sống.

Mức giảm 5% cân nặng có thể cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch; giảm 10% giúp kiểm soát biến chứng và cải thiện kết cục tim mạch; một số trường hợp cần giảm từ 15% trở lên.

Điều trị cần toàn diện, đa mô thức và cá thể hóa. Thay đổi lối sống là nền tảng. Thuốc có thể được cân nhắc ngay từ đầu ở người béo phì lâm sàng trong những trường hợp phù hợp. Các liệu pháp incretin như GLP-1 RA, GIP/GLP-1 RA và phẫu thuật chuyển hóa – giảm cân đang trở thành những thành phần ngày càng quan trọng trong quản lý béo phì và dự phòng, điều trị bệnh tim mạch. Việc sử dụng thuốc phải có chỉ định và được bác sĩ theo dõi, không tự điều trị.

Tài liệu mới công bố của Hội tim mạch học Việt Nam cho thấy béo phì nên được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: không chỉ nhìn vào số kg hay BMI, mà quan tâm đến lượng mỡ dư thừa, bệnh đồng mắc, chức năng cơ thể, chất lượng cuộc sống và nguy cơ tim mạch. Mục tiêu cuối cùng của điều trị vì thế không chỉ là giảm cân, mà là cải thiện sức khỏe và giảm nguy cơ biến cố tim mạch.

 

Tags

Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Báo lỗi cho Soha

*Vui lòng nhập đủ thông tin email hoặc số điện thoại