Ngày 20/5, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ cho biết, bệnh nhân trên là ông T.V.H. (48 tuổi, ngụ thành phố Cần Thơ). Theo bệnh sử, khoảng hơn hai tuần trước nhập viện, ông H. bắt đầu xuất hiện những cơn đau ngực thoáng qua kèm khó thở và cảm giác đau lan xuống tay trái.
Ban đầu, các triệu chứng chỉ kéo dài vài phút rồi tự hết nên người bệnh chủ quan không đi kiểm tra sức khỏe. Tuy nhiên, những ngày gần đây, các cơn đau xuất hiện dày hơn, kéo dài hơn và xảy ra ngay cả khi nghỉ ngơi. Lo lắng vì tình trạng ngày càng nặng, ông H. đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ thăm khám.
Kết quả điện tim cùng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cho thấy bệnh nhân bị tổn thương nặng nhiều nhánh mạch vành, nguy cơ cao xảy ra biến cố tim mạch nghiêm trọng nên được chỉ định nhập viện cấp cứu ngay lập tức.
BS-CKI Nguyễn Đức Chỉnh, Trưởng khoa Nội tổng hợp của bệnh viện cho biết, dù là trường hợp nhồi máu cơ tim cấp nhưng bệnh nhân vẫn còn ổn định về huyết động. Đây là điều kiện thuận lợi để ê-kíp có thêm thời gian đánh giá chuyên sâu tổn thương mạch vành nhằm lựa chọn phương án can thiệp tối ưu.
Các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ can thiệp cho bệnh nhân
Theo bác sĩ Chỉnh, hiện nay điều trị bệnh mạch vành có ba thế hệ stent chính gồm stent kim loại thường, stent phủ thuốc và stent tự tiêu. Trong đó, stent tự tiêu là công nghệ mới có khả năng tự tan hoàn toàn sau khoảng 12 tháng.
“Sau khi stent tự tiêu biến mất, mạch máu có thể phục hồi gần với trạng thái sinh lý tự nhiên ban đầu thay vì tồn tại lâu dài khung kim loại trong lòng mạch như các thế hệ trước” - BS Nguyễn Đức Chỉnh giải thích.
Qua đánh giá tổn thương thực tế, các bác sĩ quyết định áp dụng chiến lược can thiệp kết hợp. Bệnh nhân được đặt một stent phủ thuốc tại vị trí tổn thương phức tạp và một stent tự tiêu tại vị trí phù hợp hơn. Theo ê-kíp điều trị, mục tiêu của phương pháp này là giảm tối đa lượng kim loại tồn tại lâu dài trong hệ mạch vành, đặc biệt với bệnh nhân còn khá trẻ như anh H.
Các bác sĩ cho biết thêm, nhiều nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ tái hẹp sau 3 năm của stent tự tiêu khoảng 3,5%, thấp hơn so với mức 5-10% của nhiều thế hệ stent trước đây. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bệnh mạch vành đều có thể áp dụng kỹ thuật này.
“Bệnh nhân phải đáp ứng nhiều tiêu chí nghiêm ngặt như sang thương không quá dài, mạch máu có kích thước phù hợp, không vôi hóa nặng và cần được đánh giá bằng các phương tiện hình ảnh chuyên sâu như CT mạch vành hoặc siêu âm trong lòng mạch” - BS Nguyễn Đức Chỉnh cho biết.
Sau can thiệp đặt stent tự tiêu sức khỏe của người bệnh đã bình phục tốt
Sau can thiệp, tình trạng bệnh nhân hồi phục ổn định. Ông H. chia sẻ bản thân khá bất ngờ vì quá trình thực hiện diễn ra nhanh hơn tưởng tượng.
“Sau khi làm xong tôi thấy người nhẹ hơn rất nhiều, không còn cảm giác đau ngực như trước nữa” – ông H. nói.
Vợ bệnh nhân cho biết gia đình ban đầu rất hoang mang khi nghe tin ông bị nhồi máu cơ tim cấp. Tuy nhiên, sau khi được bác sĩ giải thích cặn kẽ về các phương án điều trị và ưu điểm của stent tự tiêu, cả nhà quyết định lựa chọn công nghệ mới này.
“Điều quan trọng nhất với gia đình tôi là sức khỏe lâu dài của chồng. Khi nghe bác sĩ tư vấn đây là công nghệ có nhiều ưu điểm cho tương lai, chúng tôi thấy yên tâm hơn” - bà chia sẻ.
Theo các chuyên gia tim mạch, nhồi máu cơ tim đang có xu hướng trẻ hóa do lối sống ít vận động, căng thẳng kéo dài, hút thuốc lá, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và đái tháo đường. Điều đáng lo ngại là nhiều người chủ quan với các dấu hiệu cảnh báo sớm như đau ngực, khó thở hoặc mệt bất thường nên đến viện khi bệnh đã nặng.
Thành công của ca can thiệp đầu tiên bằng stent tự tiêu không chỉ đánh dấu bước tiến mới trong điều trị tim mạch tại Đồng bằng sông Cửu Long mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận công nghệ hiện đại cho người bệnh ngay tại khu vực miền Tây, thay vì phải chuyển lên các trung tâm lớn ở TPHCM.