Từng là Giám đốc Bệnh viện E và hiện là Hiệu trưởng Trường đại học Y dược (ĐHQG HN), Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Y học… nhưng GS Lê Ngọc Thành chỉ mong muốn được nhớ đến như một bác sĩ mổ tim. Với ông, một bác sĩ giỏi trước hết phải là một người tử tế. Và muốn như vậy, đào tạo, quản lý phải "tinh".

Ngọc Minh: Nhiều người cho rằng bác sĩ Việt Nam rất giỏi chuyên môn, thậm chí không thua kém khu vực. Ông nghĩ sao về nhận định này?
GS. Lê Ngọc Thành: Giỏi là chúng ta nói với nhau. Cái thiếu nhất là chúng ta không đủ tinh để phát triển bền vững.
Y khoa không thể phát triển theo từng đợt cao trào rồi chững lại. Nếu nghiên cứu, đào tạo không được duy trì một cách hệ thống, chuẩn mực và dài hạn, thì không thể tạo ra nền tảng vững chắc.
Một thực tế đáng lo là số lượng cơ sở đào tạo y khoa ngày càng nhiều, nhưng chất lượng chưa được kiểm định chặt chẽ. Không thể để tình trạng "mỗi nơi một bằng cấp, cấp xong là xong". Đào tạo y phải được đánh giá lại toàn diện, đảm bảo chuẩn chung và giám sát nghiêm ngặt.
Đầu tư cho y tế của chúng ta cũng chưa tương xứng. Nếu hệ thống bệnh viện được xây dựng đồng bộ, hiện đại như một số mô hình Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thì chất lượng điều trị và đào tạo mới có thể phát triển bền vững.
Ngoài ra, chúng ta cần thay đổi tư duy: không chỉ chữa bệnh, mà là chữa con người. Nghĩa là người già vào viện không cảm thấy cô đơn, trẻ em không sợ hãi. Bệnh viện phải là môi trường giúp bệnh nhân phục hồi nhanh nhất và sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống.
Tôi cũng phải nói thẳng rằng dịch vụ y tế của chúng ta còn thấp so với yêu cầu phát triển. Khung pháp lý chưa tạo sự bình đẳng giữa bệnh viện công và tư. Ví dụ, bác sĩ giỏi ở bệnh viện công đến tuổi nghỉ hưu thì phải dừng lại, trong khi khu vực tư nhân lại linh hoạt hơn. Cách quản lý như vậy chưa khai thác hết nguồn lực chất lượng cao.
Ngọc Minh: Ông vừa nói đến việc "chưa đủ tinh", nhưng gần đây, có một mảng rất "hot" là bác sĩ nội trú, được nhiều người gọi là "đỉnh cao đào tạo y khoa", hay "đào tạo tinh hoa"...
GS. Lê Ngọc Thành: Mọi người không hiểu mới gọi vậy. Thẳng thắn mà nói, mô hình đào tạo bác sĩ nội trú ở Việt Nam hiện nay đang đi theo một lối mòn cũ kỹ, lỗi thời.
Bác sĩ nội trú vốn bắt nguồn từ Pháp. Ban đầu, đây là mô hình đào tạo phục vụ tầng lớp quý tộc những người muốn có đội ngũ bác sĩ giỏi riêng để chăm sóc sức khỏe cho mình. Mô hình này từng tồn tại trong một giai đoạn lịch sử dài và có ý nghĩa nhất định ở thời điểm đó.
Tuy nhiên, khi xã hội thay đổi, quan niệm về y tế cũng thay đổi. Chăm sóc sức khỏe không còn là đặc quyền của một nhóm người, mà là quyền cơ bản của mọi công dân.
Pháp và nhiều quốc gia trên thế giới đã cải tổ mô hình đào tạo, không còn duy trì nội trú như một "đặc ân" dành cho số ít, mà yêu cầu tất cả bác sĩ đều phải được đào tạo sau đại học (chuyên khoa và chuyên khoa sâu) ở chuẩn mực cao nhất.
Trong khi Việt Nam vẫn giữ cách đào tạo cũ mà gọi là "tinh hoa" thì cần phải nhìn lại một cách nghiêm túc. Điều quan trọng không phải là danh xưng, mà là chất lượng đào tạo có thực sự đáp ứng được yêu cầu của nền y học hiện đại và quyền lợi của người bệnh hay không.
Ngọc Minh: Như thế, mô hình đào tạo bác sĩ nội trú ở Việt Nam nên bỏ?
GS Lê Ngọc Thành: Không bỏ, nhưng nên thay đổi để hội nhập với thế giới. Muốn thay đổi, theo tôi có ba việc bắt buộc phải làm.
Thứ nhất, phải tổ chức kỳ thi nội trú chung trên toàn quốc và xếp hạng công khai theo điểm số và địa bàn học (thực tập) thay vì mỗi nơi thi một kiểu, chỉ tiêu phân tán như hiện nay.
Làm được như vậy, chúng ta vừa đảm bảo cạnh tranh công bằng, vừa phân bổ nhân lực hợp lý. Những vùng sâu, vùng xa cũng sẽ có bác sĩ nội trú thực thụ, thay vì tập trung hết ở vài bệnh viện trung ương.
Khi đã có một kỳ thi chung và chuẩn đầu vào thống nhất, chương trình đào tạo cũng phải được chuẩn hóa tương ứng. Lúc đó mới có thể nói đến chất lượng đồng đều trên toàn hệ thống.
Thứ hai, phải hiểu đúng khái niệm "tinh hoa": Nếu một nhóm có điểm cao nhất, được đào tạo ở những cơ sở thực hành theo chuẩn cao nhất, đầu vào đầu ra nghiêm ngặt, thì họ mới xứng đáng được gọi là tinh hoa. Không thể gom tất cả bác sĩ nội trú lại rồi mặc định ai cũng là "tinh hoa". Danh xưng phải đi kèm chuẩn mực và sự sàng lọc thực chất.

Thứ ba, có một nghịch lý gần như chỉ tồn tại ở Việt Nam: ở nhiều nước trên thế giới, sau khi tốt nghiệp, nếu bác sĩ tiếp tục học chuyên sâu và làm việc tại bệnh viện, họ được trả lương. Dù mức lương có thể không cao, nhưng đủ để sống và yên tâm học tập, thực hành.
Còn ở Việt Nam, bác sĩ nội trú vừa học vừa làm việc cường độ cao trong bệnh viện, nhưng lại phải đóng học phí.
Ngọc Minh: Vậy, nếu được "thiết kế lại" hệ thống đào tạo y khoa Việt Nam từ con số 0, thay đổi đầu tiên của giáo sư sẽ là gì?
GS. Lê Ngọc Thành: Chúng ta thường tự hào rằng bác sĩ Việt Nam rất giỏi. Nhưng vấn đề là chúng ta không hội nhập được và nguyên nhân nằm ở hệ thống đào tạo.
Hiện nay, đào tạo y khoa của Việt Nam khi ra nước ngoài không được công nhận tương đương. Trong khi thế giới thay đổi rất nhanh, chúng ta vẫn giữ nguyên một mô hình cũ. Có thể vẫn có những cá nhân xuất sắc, nhưng không thể lấy sự giỏi giang của một số người để biện minh cho những vấn đề của hệ thống.
Thế giới, đa phần các nước không có chuyện học 6 năm ra trường đi làm ngay. Chính sự khác biệt này khiến chúng ta không thể đặt mình vào cùng một "chuẩn hệ thống" với thế giới, và vì thế rất khó hội nhập.
Ở các nước phát triển, 6 năm y khoa chỉ mới là điều kiện để dự một kỳ thi quốc gia cấp chứng chỉ hành nghề 'tạm thời' và tiếp tục phải đào tạo chuyên khoa và chuyên khoa sâu. Nhưng ngay cả khi có chứng chỉ đó, hầu như không ai dừng lại để hành nghề độc lập ngay lập tức. Tại Nhật Bản, sau 6 năm đại học, bác sĩ phải học thêm 2 năm thực hành bắt buộc. Ở Pháp, 6 năm chỉ là nền tảng, sau đó phải học thêm 3 năm mới trở thành bác sĩ đa khoa (bác sĩ gia đình), chuyên khoa sâu mất 4-6 năm, và được cấp chứng chỉ hành nghề chuyên khoa, duy trì sau này do các Hội nghề nghiệp quyết định, nhà nước sẽ thanh kiểm tra điều kiện hành nghề.
Nếu được thiết kế lại từ đầu, thay đổi đầu tiên phải là xây dựng một hệ thống đào tạo giống như các nước phát triển đang làm. Tốt nghiệp đại học không đồng nghĩa với hành nghề độc lập. Muốn hành nghề, phải qua chuẩn hóa, thi cử quốc gia và đào tạo sau đại học bắt buộc (chuyên khoa và chuyên khoa sâu – tên thường gọi trước đây là nội trú - interne en (tiếng Pháp) và Resident (tiếng Anh).
Nhưng cái khó nhất không phải là chuyên môn, mà là quyết tâm chính trị. Phải có người dám đứng ra thay đổi ở cấp hệ thống.
Bởi khi thay đổi đào tạo, sẽ kéo theo thay đổi về chế độ đãi ngộ. Không thể cào bằng thu nhập giữa người học 4 năm đại học với người học 6 năm, càng không thể đánh đồng với người học 9 -10 năm để trở thành chuyên gia. Nếu không có cơ chế đãi ngộ tương xứng, không thể đòi hỏi một hệ thống chuẩn mực và hội nhập quốc tế.
Ngọc Minh: Nếu chúng ta thực hiện được những việc căn bản như giáo sư đề xuất, thì tấm bằng bác sĩ Việt Nam có cơ hội được công nhận rộng rãi trên thế giới hay không?
GS. Lê Ngọc Thành: Tôi tin chắc chắn là được.
Muốn được công nhận, trước hết chúng ta phải hội nhập "về mặt cơ học", tức là tương thích về cấu trúc và thời gian đào tạo. Ở nhiều quốc gia, để trở thành một bác sĩ chuyên khoa thực thụ, người học phải trải qua 12-14 năm đào tạo liên tục.
Nếu thời gian đào tạo, cấu trúc chương trình, kỳ thi quốc gia và chuẩn đầu ra tương đương với quốc tế, thì về nguyên tắc, bằng cấp của chúng ta sẽ có cơ sở để được công nhận.
Muốn làm được điều đó, Việt Nam phải tiến tới một mô hình đào tạo y khoa mang tính quốc tế: thống nhất, chuẩn hóa và có tính cạnh tranh thực sự. Các trường y không thể đi riêng lẻ mà phải cùng ngồi lại, xây dựng một đề án chung và kiến nghị Bộ Y tế, Chính phủ thay đổi ở tầm chính sách.

Ngọc Minh: Ngoài những vấn đề mang tính hệ thống như ông vừa chỉ ra, với cá nhân GS, ở vị trí quản lý một trường đại học y khoa, điều gì khiến ông cảm thấy áp lực nhất?
GS. Lê Ngọc Thành: Thực ra tôi không coi đó là áp lực.
Khi tôi về Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), bối cảnh cũng tương tự như thời điểm tôi nhận nhiệm vụ tại Bệnh viện E trước đây: gần như phải xây dựng từ đầu.
Nếu ở bệnh viện là gây dựng hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực, thì ở trường đại học, thách thức còn lớn hơn: xây dựng chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, hoàn thiện cơ sở vật chất. Tôi biết trước điều đó nên không bất ngờ.
Khó khăn lớn nhất, nếu có, chỉ là thời gian. Tôi chưa hài lòng với tốc độ phát triển hiện tại. Theo tôi, phải quyết liệt hơn nữa. Tôi mong muốn trường phải tăng tốc ít nhất gấp đôi, mở rộng quy mô và nâng tầm hội nhập quốc tế nhanh hơn nữa.
Với tôi, quản lý không phải là giữ cho mọi thứ ổn định, mà là tạo động lực để hệ thống phát triển nhanh và đi xa hơn.
Ngọc Minh: Để thúc đẩy hội nhập quốc tế, phải chăng GS đã chủ động "tìm thầy" cho trường của mình?
GS. Lê Ngọc Thành: Đúng. Muốn phát triển nhanh và bền vững thì nhất định phải có thầy.
Tôi đã chủ động mời các chuyên gia đầu ngành từ những bệnh viện lớn về giảng dạy. May mắn là các thầy sẵn sàng nhận lời. Họ muốn cống hiến và tin vào định hướng mà chúng tôi đang theo đuổi. Tôi luôn tâm niệm đã nói là phải làm, và có lẽ chính sự nhất quán đó khiến các thầy tin tưởng đồng hành.
Có một thực tế rất đáng trân trọng: nhiều thầy về giảng dạy hoàn toàn không nhận thù lao, vì nhà trường còn khó khăn về tài chính. Họ đến bằng tinh thần trách nhiệm và khát vọng xây dựng một môi trường đào tạo tốt hơn.
Song song với đó, chúng tôi lựa chọn hợp tác với Đại học Paris-Saclay (Pháp) – một trong những đại học hàng đầu thế giới, hiện xếp thứ 13 toàn cầu. Tôi đầu tư rất nghiêm túc cho hướng đi này, bởi muốn nâng tầm thì phải đi cùng những người giỏi hơn mình.
Tôi thường nói thẳng với đồng nghiệp: họ đang ở mức 10, chúng ta mới ở mức 3. Vậy mục tiêu là phải học để lên 7, lên 8. Muốn vậy, phải chấp nhận rằng thầy là thầy. Không thể vừa học vừa cho rằng mình đã ngang bằng. Cái khó nhất không phải là sao chép kỹ thuật, mà là học được cách nghĩ, cách tiếp cận vấn đề theo chuẩn mực quốc tế.
Ngọc Minh: Cũng vì những lý do trên mà suốt 7 năm (5 năm trưởng khoa, 2 năm làm Hiệu trưởng) GS không hề nhận lương?
GS. Lê Ngọc Thành: Năm 2018, khi tôi đồng thời giữ hai vị trí là Giám đốc Bệnh viện E và Hiệu trưởng, tôi không nhận lương ở trường. Khi đó, tôi coi việc tham gia xây dựng trường là trách nhiệm và tâm huyết cá nhân, không đặt nặng vấn đề thu nhập.
Sau này, khi tôi thôi chức Giám đốc Bệnh viện E, nhà trường có đề nghị trả lương. Thực lòng mà nói, tôi cũng không quá quan tâm đến chuyện đó. Tuy nhiên, thời điểm ấy tôi đã hết tuổi quản lý theo quy định. Đại học Quốc gia muốn giữ tôi tiếp tục điều hành nên đã xây dựng một cơ chế đặc biệt, báo cáo các cấp có thẩm quyền và Chính phủ để thực hiện quy trình thuê Hiệu trưởng theo đúng thủ tục.
Tôi trở thành hiệu trưởng đầu tiên trong hệ thống công lập được "thuê, lương tôi tự nhận ở mức tối thiểu nhất". Hiện nay, Nhà nước đang từng bước triển khai chủ trương thuê người tài trong khu vực công, nhưng Đại học Quốc gia đã đi trước một bước.

Vì vậy, về bản chất, tôi đang là một Hiệu trưởng được thuê theo cơ chế đặc biệt của Nhà nước. Điều đó không chỉ là câu chuyện cá nhân, mà còn cho thấy tư duy đổi mới trong quản trị đại học công lập.
Ngọc Minh: Thuê một giáo sư làm hiệu trưởng, hẳn mức lương phải "khủng" lắm?
GS. Lê Ngọc Thành: (Cười lớn) Nếu nói đúng thì tôi được thuê với mức thấp nhất có thể theo khung của Nhà nước. Hiện nay, tôi nhận khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng.
Nhưng tôi chưa bao giờ nhận vị trí này vì tiền. Với tôi, điều quan trọng là được làm, được xây dựng và để lại một nền tảng tốt cho thế hệ sau, chứ không phải câu chuyện thu nhập.

Ngọc Minh: Giáo sư được ghi nhận là người góp phần thay đổi diện mạo và nâng tầm chất lượng hoạt động của Bệnh viện E. Tuy vậy, ông từng nói mình "chưa thực sự hài lòng". Điều gì khiến ông còn trăn trở đến hôm nay?
GS. Lê Ngọc Thành: Tôi chưa hài lòng vì thời gian dành cho mình quá ngắn – chỉ hơn một nhiệm kỳ 6 năm. Sáu năm tưởng dài, nhưng với một bệnh viện thì chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến bền vững. Đặc biệt, hai năm tôi làm bị gián đoạn bởi Covid-19 khiến nhiều kế hoạch phải dừng lại. Tôi thấy tiếc.
Điều quan trọng nhất để một cơ sở phát triển không phải là hạ tầng, mà là con người. Hạ tầng thay đổi thì ai cũng nhìn thấy và khen ngợi, nhưng con người mới là cốt lõi. Đội ngũ cán bộ hiện nay chưa đạt đến độ "chín" cần thiết. Có những cá nhân rất tốt, nhưng tổng thể thì chưa đồng đều. Sự phát triển vì thế chưa thực sự sâu và vững.
Ngay cả những thay đổi về y đức, về thái độ, tác phong phục vụ… cũng chưa kịp "ăn rễ". Chúng chưa trở thành thói quen văn hóa. Ví dụ rất đơn giản: khi có ca cấp cứu, tôi vẫn phải nhắc nhở. Nghĩa là sự thay đổi chưa thực sự bền vững. Để xây dựng được nền tảng con người, theo tôi, phải cần ít nhất 10 năm.
Những điều tôi làm chưa đủ thời gian để trở thành nếp nghĩ, nếp làm. Vì thế, tôi lo rằng khi mình rời đi, nếu không có sự tiếp nối đủ mạnh, rất dễ phát sinh xung đột hoặc quay lại cách làm cũ. Một hệ thống chỉ bền vững khi những giá trị đã trở thành thói quen chung.
Một điều nữa tôi chưa làm được ở Bệnh viện E là phát triển được chất lượng cao theo đúng nghĩa "tinh", tức là không chỉ giỏi kỹ thuật mà còn tinh trong quản trị, tinh trong đào tạo và tinh trong văn hóa nghề nghiệp.
Ngọc Minh: Từ những điều còn dang dở ở Bệnh viện E, khi chuyển sang môi trường đại học, đặc biệt ở giai đoạn cuối sự nghiệp, ông muốn hiện thực hóa những ấp ủ gì?
GS. Lê Ngọc Thành: Ở Bệnh viện E, tôi vẫn thấy còn nhiều khoảng trống về đào tạo. Bác sĩ không thể chỉ giỏi mổ xẻ hay thành thạo kỹ thuật là đủ. Làm được một kỹ thuật khó chưa thể gọi là giỏi toàn diện.
Một bác sĩ giỏi trước hết phải là một con người tử tế. Phải có y đức, có cách đối nhân xử thế, có khả năng làm việc cùng đồng nghiệp và tôn trọng bệnh nhân. Y đức không chỉ là với bệnh nhân, mà còn là cách các bác sĩ đối xử với nhau. Nếu chúng ta không tôn trọng và hỗ trợ nhau, thì khó có thể chăm sóc bệnh nhân một cách trọn vẹn.

Tôi luôn tự hào vì khi khám bệnh, kể cả với những bệnh nhân không biết chữ, tôi chưa bao giờ để xảy ra nhầm lẫn vì tôi luôn chỉ bảo cụ thể. Tôi làm việc trực tiếp, không qua trung gian, không thư ký riêng. Tôi muốn bác sĩ phải tiếp xúc, phải hiểu người bệnh một cách trực diện.
Những điều chưa làm được ở bệnh viện, tôi muốn đẩy mạnh ở môi trường đại học – đặc biệt là đào tạo. Tôi luôn khuyến khích giảng viên, bác sĩ đi học, đi nghiên cứu. Tôi vẫn nói vui: "Cứ học đi, tôi nhắm mắt ký". Với tôi, không học mới là điều đáng lo nhất.
Làm khoa học và đào tạo cần điều kiện sống. Nhà trường đang phát triển hệ thống phòng khám dịch vụ để tăng thu nhập cho giảng viên, giúp họ yên tâm làm chuyên môn. Muốn nâng chất lượng lên mức "tinh", phải đồng thời chăm lo con người, môi trường và cơ chế.
Tôi không tìm kiếm sự hài lòng cá nhân. Điều tôi mong là những giá trị mình gây dựng sẽ đủ sâu để tồn tại lâu dài, kể cả khi tôi không còn ở đó nữa.
Ngọc Minh: GS có dự định sẽ làm tiếp những gì mình còn chưa làm được tại Bệnh viện E ở Bệnh viện Đại học Y Dược (cơ sở) Linh Đàm?
GS. Lê Ngọc Thành: Nhiều người hỏi tôi câu này, và tôi không ngại trả lời.
Bệnh viện hiện còn ở giai đoạn đầu, quy mô chưa lớn, nhưng tôi tự tin đây là một trong những cơ sở hiện đại hàng đầu tại Hà Nội. Trang thiết bị được đầu tư bài bản, đồng bộ. Đội ngũ bác sĩ đều là những người có chuyên môn tốt, được lựa chọn kỹ.
Hướng đi của cơ sở Linh Đàm sẽ khác với Bệnh viện Việt Đức hay Bệnh viện E. Tôi vẫn nói thẳng: Việt Đức và Bệnh viện E hiện nay chủ yếu giải quyết nhu cầu rất lớn của xã hội, thiên về số lượng, nên khó tránh khỏi việc chất lượng chưa thể đồng đều ở mức cao nhất.
Còn Linh Đàm sẽ tập trung vào chất lượng điều trị và dịch vụ. Bệnh viện không chạy theo số lượng bệnh nhân, mà hướng tới mô hình điều trị tinh gọn, chuẩn mực, dịch vụ y tế ở phân khúc cao.
Mục tiêu là để mỗi bệnh nhân đến đây được điều trị đúng nghĩa, được chăm sóc toàn diện, và nhận được dịch vụ tương xứng với chất lượng chuyên môn. Đây là cách tôi muốn xây dựng Linh Đàm: ít nhưng tinh, nhỏ nhưng chuẩn.
Ngọc Minh: Tôi băn khoăn, nếu bệnh viện định hướng điều trị chất lượng cao, liệu người dùng bảo hiểm y tế hay người có thu nhập thấp có bị thu hẹp cơ hội tiếp cận?
GS. Lê Ngọc Thành: Không đúng.
Người dân có bảo hiểm y tế, đặc biệt là người thu nhập thấp, vẫn được hưởng lợi. Bệnh viện vẫn điều trị theo đúng quyền lợi bảo hiểm. Không có chuyện chất lượng cao đồng nghĩa với loại trừ người nghèo.
Tuy nhiên, với những người có khả năng chi trả và muốn sử dụng dịch vụ, kỹ thuật ở mức cao hơn, họ có quyền lựa chọn. Phần chi trả đó sẽ giúp bệnh viện tái đầu tư vào trang thiết bị, công nghệ và nhân lực. Khi hệ thống được nâng cấp, tất cả bệnh nhân kể cả người dùng bảo hiểm cũng được hưởng lợi từ nền tảng kỹ thuật cao hơn.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay có một nghịch lý: nhiều bệnh nhân có điều kiện, sẵn sàng chi trả để được sử dụng dịch vụ tốt hơn, nhưng lại không có cơ chế phù hợp để đáp ứng.
Tại Linh Đàm, chúng tôi hướng tới việc giữ những người có nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao ở lại trong nước, thay vì ra nước ngoài. Những người muốn tiếp cận kỹ thuật hiện đại nhất có thể đến đây. Và khi bệnh viện đầu tư được hệ thống máy móc, công nghệ ở mức cao, thì cả những bệnh nhân bảo hiểm hoặc hoàn cảnh khó khăn cũng sẽ được tiếp cận nền tảng điều trị tiên tiến đó.
Mô hình này không phải để phân biệt, mà để tạo nguồn lực phát triển bền vững nơi người có điều kiện góp phần nâng chất lượng chung, và người yếu thế không bị bỏ lại phía sau.
Ngọc Minh: Đã làm được rất nhiều và cũng còn rất nhiều thứ muốn làm, nếu một ngày nào đó nghỉ công tác, GS mong mình sẽ được nhớ đến nhiều nhất vì điều gì?
GS. Lê Ngọc Thành: (Cười) chỉ là bác sĩ mổ tim.
Cảm ơn giáo sư, chúc giáo sư sức khỏe và thành công!