BSCK II Hoàng Tiến Hưng (Khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, đái tháo đường và đái tháo nhạt là hai bệnh hoàn toàn khác nhau về cơ chế bệnh sinh.
Nếu đái tháo đường là rối loạn chuyển hóa glucose, thì đái tháo nhạt là rối loạn điều hòa nước, do thiếu vasopressin/ADH hoặc do thận giảm đáp ứng với hormon này. Hậu quả là người bệnh mất một lượng lớn nước tự do qua thận, nước tiểu rất loãng, thể tích nhiều, kéo theo khát dữ dội để bù lại phần nước đã mất.
“ Có những người uống rất nhiều nước, đi tiểu liên tục cả ngày lẫn đêm nhưng đường huyết hoàn toàn bình thường. Nếu chỉ loại trừ tăng đường huyết mà không đánh giá tiếp hội chứng đa niệu - đa khát, nguy cơ bỏ sót đái tháo nhạt là rất lớn ”, bác sĩ Hưng nhấn mạnh.
Đái tháo nhạt với đái tháo đường có những dấu hiệu giống nhau.
Theo bác sĩ Hưng, triệu chứng điển hình của đái tháo nhạt là tiểu nhiều thực sự, nước tiểu nhạt màu, tỷ trọng thấp, khát nhiều rõ rệt, thích uống nước lạnh và thường xuyên phải thức dậy đi tiểu ban đêm.
Tình trạng này khiến chất lượng sống suy giảm đáng kể do mất ngủ, mệt mỏi kéo dài. Ở trẻ nhỏ, bệnh có thể biểu hiện bằng quấy khóc, chậm lớn, mất nước tái diễn hoặc sốt không rõ nguyên nhân.
Về phân loại, đái tháo nhạt gồm 4 nhóm chính: đái tháo nhạt trung ương, đái tháo nhạt do thận, chứng cuồng uống nguyên phát và đái tháo nhạt thai kỳ.
Trong đó, đái tháo nhạt trung ương thường gặp sau phẫu thuật vùng tuyến yên, u vùng dưới đồi - tuyến yên, chấn thương sọ não hoặc bệnh lý viêm, thâm nhiễm. Đái tháo nhạt do thận lại liên quan đến bệnh thận, rối loạn điện giải, dùng lithium hoặc nguyên nhân di truyền.
Riêng ở phụ nữ mang thai, dù hiếm gặp, đái tháo nhạt thai kỳ vẫn cần được nghĩ đến khi xuất hiện tình trạng khát nhiều, đa niệu rõ rệt trong 3 tháng cuối thai kỳ.
Các chuyên gia cảnh báo, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh có thể rơi vào mất nước nặng, tăng natri máu, thậm chí trở thành cấp cứu nội tiết, điện giải. Nguy cơ đặc biệt cao ở trẻ nhỏ, người cao tuổi, người sau phẫu thuật, giảm ý thức hoặc không thể tiếp cận nước đầy đủ.
Những dấu hiệu như khô miệng, mệt lả, lừ đừ, lú lẫn, chuột rút, thậm chí co giật trong bối cảnh tiểu quá nhiều cần được đi khám ngay để đánh giá nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải.
Để chẩn đoán đái tháo nhạt, người bệnh được chỉ định xét nghiệm glucose máu, điện giải, áp lực thẩm thấu huyết tương và nước tiểu, tỷ trọng nước tiểu, chức năng thận, canxi, kali máu; trong một số trường hợp cần làm nghiệm pháp chuyên sâu hoặc chụp MRI vùng dưới đồi tuyến yên.
Về điều trị, nguyên tắc quan trọng nhất là điều trị đúng nguyên nhân. Với đái tháo nhạt trung ương, desmopressin là thuốc nền tảng. Với đái tháo nhạt do thận, cần xử trí nguyên nhân kết hợp các biện pháp giảm bài niệu. Trong khi đó, chứng cuồng uống nguyên phát có hướng tiếp cận hoàn toàn khác.
Bác sĩ lưu ý, người bệnh không nên tự ý dùng thuốc hoặc cố uống quá nhiều nước khi chưa rõ nguyên nhân vì có thể gây rối loạn natri máu nguy hiểm.
“ Khát nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều không đồng nghĩa mặc định là đái tháo đường. Khi triệu chứng kéo dài nhưng đường huyết bình thường, cần nghĩ thêm đến đái tháo nhạt để tránh chẩn đoán muộn và biến chứng nặng ”, bác sĩ Hưng khuyến cáo.