61.171 chiếc taxi điện đang hoạt động trên cả nước. Trong tổng số 86.274 taxi, xe điện chiếm tới 70,9%. Nói cách khác, cứ 10 chiếc taxi đang chạy trên đường thì đã có hơn 7 chiếc sử dụng động cơ điện.
Đây không còn là câu chuyện về một vài doanh nghiệp tiên phong thử nghiệm xe xanh. Với tỷ lệ vượt 70%, điện hóa đã trở thành xu hướng chủ đạo của một ngành vận tải có đặc thù rất khác ô tô cá nhân: xe chạy gần như cả ngày, quãng đường lớn và từng đồng chi phí vận hành đều được tính toán.
Và đằng sau cú chuyển mình đó là sự xuất hiện của một hệ sinh thái xe điện được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các doanh nghiệp của tỷ phú Phạm Nhật Vượng.
Khi taxi trở thành “phòng thí nghiệm” lớn nhất của xe điện
Theo số liệu được công bố tại Hội nghị tham vấn Báo cáo tổng kết thực hiện Quyết định 876/QĐ-TTg do Bộ Xây dựng tổ chức ngày 17/9, Việt Nam hiện có 61.171 taxi điện trên tổng số 86.274 taxi.
Tỷ lệ 70,9% đặc biệt đáng chú ý nếu đặt cạnh bức tranh điện hóa chung của cả nước. Tính đến tháng 6/2026, xe điện mới chiếm khoảng 6,1% trong hơn 6,3 triệu phương tiện được báo cáo. Trong đó, ô tô con chiếm tới 97,3% tổng số phương tiện điện.
Như vậy, nếu xe điện nói chung vẫn đang trong quá trình mở rộng thị phần, taxi lại đang đi trước với khoảng cách rất lớn.
Lý do nằm ở chính cách một chiếc taxi được sử dụng.
Một chiếc xe cá nhân có thể chỉ chạy vài chục km mỗi ngày. Taxi thì khác. Nó có thể liên tục đón khách từ sáng tới tối, chạy hàng trăm km và tích lũy số km nhanh hơn rất nhiều so với phương tiện thông thường.
Với tài xế và doanh nghiệp vận tải, chiếc xe không đơn thuần là phương tiện đi lại mà là một tài sản tạo doanh thu. Vì vậy, chi phí nhiên liệu, bảo dưỡng và thời gian xe phải nằm xưởng đều tác động trực tiếp tới hiệu quả khai thác.
Một tài xế taxi ở Hà Nội, cho biết điều dễ nhận thấy nhất sau khi chuyển từ xe xăng sang xe điện là chi phí vận hành và việc bảo dưỡng. Theo đó, xe taxi chạy nhiều nên tiền nhiên liệu trước đây là khoản phải tính rất kỹ mỗi ngày. Xe điện giúp tài xế chủ động hơn về chi phí. Việc bảo dưỡng cũng đơn giản hơn do không phải thay dầu động cơ và một số bộ phận như xe xăng.
Với một tài xế, khoản tiết kiệm có thể được cảm nhận qua từng ngày. Nhưng khi nhân con số đó lên hàng trăm hay hàng nghìn chiếc, bài toán trở thành một câu chuyện hoàn toàn khác đối với doanh nghiệp.
Đó cũng là lúc xe điện từ một lựa chọn công nghệ trở thành một bài toán kinh tế.
Câu chuyện không chỉ nằm ở chiếc xe
Để phục vụ đội xe ngày càng lớn, hạ tầng sạc cũng phải chạy theo. Theo báo cáo, Việt Nam hiện có 15.024 trạm/cổng sạc, gồm 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, trải rộng tại 34/34 tỉnh, thành phố. Hạ tầng sạc đã xuất hiện trên 125 trong tổng số 215 tuyến cao tốc, quốc lộ.
Nhưng chính tốc độ điện hóa nhanh đang đặt ra một bài toán mới. Đến tháng 5/2026, mới có 4 trong 21 trạm dừng nghỉ vận hành hệ thống sạc, trong khi 8 trạm khác đang lắp đặt. Với taxi, vấn đề còn phức tạp hơn bởi chiếc xe không thể dành quá nhiều thời gian để chờ sạc. Một chiếc taxi nằm yên đồng nghĩa với việc không tạo ra doanh thu.
Do đó, cuộc đua điện hóa không chỉ là cuộc đua xem ai có nhiều xe hơn. Đó còn là cuộc đua xây dựng mạng lưới sạc đủ nhanh, đủ rộng và đủ gần những nơi phương tiện hoạt động với cường độ cao.
Theo tính toán được đưa ra tại hội nghị, đến năm 2030, giao thông điện có thể cần thêm khoảng 3-4 tỷ kWh điện mỗi năm, tương đương 1-1,5% sản lượng điện toàn hệ thống.
Con số này cho thấy điện hóa giao thông đang bắt đầu trở thành một bài toán của cả hệ thống năng lượng, chứ không còn chỉ là câu chuyện của ngành ô tô.
Nếu 61.171 taxi điện hiện nay là kết quả của một quá trình chuyển đổi đã diễn ra, những kế hoạch đầu tư mới cho thấy quá trình này vẫn đang tiếp tục mở rộng.
Nhìn kỹ vào làn sóng taxi điện, có thể thấy dấu ấn của tỷ phú Phạm Nhật Vượng ở mọi mắt xích: chiếc xe đến từ VinFast, mô hình taxi thuần điện do GSM (Xanh SM) khởi xướng, còn mạng lưới trạm sạc do V-Green phát triển. Chính hệ sinh thái "xe – dịch vụ – hạ tầng" khép kín này đã giúp taxi điện bứt tốc so với phần còn lại của thị trường.
Thỏa thuận ký cuối tháng 8 giữa Xe Nhanh Việt Nam, GSM và VinFast là ví dụ điển hình. Theo đó, Xe Nhanh Việt Nam dự kiến trang bị 3.000 ô tô điện VinFast từ nay đến năm 2027, gồm Minio Green, EC Van, Limo Green, VF 5 và Herio Green, hoạt động tại TP.HCM, khu vực Bình Dương cũ, Đồng Nai và Tây Ninh. Hạ tầng trạm sạc tại các địa phương này cũng được đầu tư song song, bởi với đội xe hàng nghìn chiếc, phương tiện và điểm sạc buộc phải được tính toán như một hệ thống thống nhất.
Theo ông Lã Trọng Hiếu, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Xe Nhanh Việt Nam, việc bổ sung 3.000 xe nằm trong chiến lược phát triển hệ sinh thái vận tải điện, trong đó phương tiện và hạ tầng sạc được mở rộng đồng thời.
GSM và VinFast cho biết đến nay đã đồng hành cùng hơn 100 doanh nghiệp vận tải trên cả nước chuyển sang phương tiện xanh. Con số này cho thấy hệ sinh thái của ông Vượng không chỉ phục vụ riêng Xanh SM, mà đang trở thành bệ đỡ cho cả ngành taxi chuyển đổi, đưa taxi điện sang chương mới, không còn là câu chuyện thử nghiệm hay hình ảnh.
Nếu tốc độ này được duy trì, cuộc cách mạng điện hóa giao thông tại Việt Nam có thể không bắt đầu từ những chiếc xe gia đình trong gara, mà đã hiện hữu mỗi ngày trên đường phố, qua những chiếc taxi chạy liên tục từ chuyến này sang chuyến khác.