Đẩy mạnh chế biến sâu
Theo ông Phan Minh Thông, Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh, chế biến sâu có thể làm thay đổi rất mạnh giá trị nguồn nguyên liệu. Vỏ quả cà phê chín trước đây gần như bị bỏ đi, nay được doanh nghiệp chế biến thành trà cascara có giá trị cao gấp khoảng 4 lần hạt cà phê thô và đã xuất khẩu sang Hà Lan, Italy, Đức.
Tập đoàn Phúc Sinh cũng đầu tư nhà máy tại khu vực Bình Dương trước đây và tỉnh Sơn La, phát triển cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản cùng nhiều sản phẩm chế biến. Từ một doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu, hiện khoảng 98% doanh thu của Phúc Sinh đến từ xuất khẩu.
Công ty CP Thực phẩm Vĩnh Thành Đạt cũng có giải pháp tăng thêm giá trị sản phẩm. Phó Tổng Giám đốc Trương Chí Cường cho biết, sản phẩm trứng ăn liền đã được công ty bán trong nước hơn 10 năm qua nhưng để xuất khẩu sang Nhật Bản, công ty mất hơn hai năm làm việc với đối tác.
Theo yêu cầu của thị trường này, nhà xưởng phải được cải tạo theo tiêu chuẩn FSSC (chương trình chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm); công thức, nguyên liệu, khẩu vị và quy trình kiểm soát cũng phải điều chỉnh. Tháng 6-2026, container đầu tiên gồm 172.000 quả trứng ăn liền mang thương hiệu VFood đã xuất sang Nhật Bản.
“Giá trị của nông sản được mở rộng khi doanh nghiệp không dừng ở bán nguyên liệu mà tiếp tục đầu tư chế biến, phát triển sản phẩm theo yêu cầu của thị trường”, ông Cường nhấn mạnh.
Ông Rubens Marques, Tổng Giám đốc LDC tại Việt Nam, đánh giá, nước ta có khả năng trở thành trung tâm nông sản - thực phẩm quan trọng của khu vực nếu tổ chức chuỗi cung ứng hiệu quả hơn, đẩy mạnh chế biến sâu và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững. Khi ngày càng nhiều nông sản thô được chế biến thành sản phẩm, giá trị tạo ra sẽ tăng.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, yêu cầu đặt ra hiện nay là chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp, lấy thị trường làm định hướng, chất lượng và tiêu chuẩn làm nền tảng. Đồng thời, tập trung khai thác sâu hơn những tiềm năng tiêu thụ từ các thị trường Trung Quốc, EU, Nhật Bản, thị trường Halal và các thị trường tiềm năng khác. Các hiệp hội ngành hàng tăng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm phù hợp từng thị trường.
Đưa thương hiệu vào cuộc đua toàn cầu
Nông sản Việt hiện có mặt tại hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tại TPHCM, chỉ trong đầu tháng 9 này, hơn 580 đoàn doanh nghiệp từ 60 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia hơn 3.000 cuộc tiếp xúc và khoảng 13.000 lượt kết nối giao thương để tìm nguồn hàng. Các tập đoàn lớn như Walmart, Aeon, Lotte, Central Group, Mega Market, Pagoda, LuLu... đã đến nước ta để tìm kiếm các nhà cung ứng nông sản, thực phẩm.
Ông Ang Yuit, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Singapore, gợi ý, để nắm bắt “thời cơ vàng” gia nhập sâu hơn vào thị trường toàn cầu, Chính phủ Việt Nam nên hỗ trợ doanh nghiệp kết nối thành chuỗi, từ vùng nguyên liệu, chế biến, kiểm soát chất lượng đến logistics và phân phối, qua đó đáp ứng các đơn hàng lớn, ổn định. Việc đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và kết nối trực tiếp với hệ thống phân phối quốc tế đang mở rộng cơ hội cho xuất khẩu nông sản Việt.
Năm nay, cả nước đặt mục tiêu xuất khẩu nông sản vượt 74 tỷ USD, tăng đáng kể so với con số 70,09 tỷ USD năm 2025. Nhiều ngành hàng và thị trường đã tạo ra dòng thương mại hàng tỷ USD như gạo xuất khẩu sang Philippines đạt hơn 1 tỷ USD/năm; cà phê Việt Nam vào Liên minh châu Âu đạt 3,63 tỷ USD...
* Bà PHAN THỊ THẮNG, Thứ trưởng Bộ Công thương:
Nắm nhu cầu thị trường để tổ chức lại nguồn cung
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tổ chức lại, Việt Nam có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của các tập đoàn, nhà mua hàng quốc tế.
Với 17 hiệp định thương mại tự do đã ký kết và thực thi, môi trường đầu tư ổn định và năng lực sản xuất ngày càng được nâng cao, doanh nghiệp Việt có điều kiện mở rộng kết nối với thị trường thế giới. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng hiện không còn được tổ chức chủ yếu dựa trên chi phí và hiệu quả mà ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về sự an toàn, khả năng chống chịu, tính minh bạch và phát triển bền vững. Nhà mua hàng cần sản phẩm tốt nhưng đồng thời cũng đòi hỏi năng lực sản xuất ổn định, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao và cam kết hợp tác lâu dài.
Thực tế trên đòi hỏi doanh nghiệp chủ động lắng nghe nhu cầu thị trường, từ đó điều chỉnh sản xuất và năng lực cung ứng phù hợp. Các hoạt động xúc tiến thương mại phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp nhà mua hàng, hình thành những quan hệ cung ứng ổn định, linh hoạt, bền vững.
Bộ Công thương sẽ tiếp tục phát huy mạng lưới thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường cung cấp thông tin thị trường, kết nối cung - cầu và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn mới.
* Ông NGUYỄN CÔNG VINH, Phó Chủ tịch UBND TPHCM:
Kéo thị trường đến gần doanh nghiệp
TPHCM sẽ tăng cường nghiên cứu, dự báo, cập nhật cho doanh nghiệp những thay đổi về nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, truy xuất nguồn gốc và các rào cản thương mại.
Thành phố cũng xây dựng dữ liệu doanh nghiệp cung ứng theo ngành hàng, tăng liên kết nguồn hàng với các địa phương và kết nối trực tiếp doanh nghiệp với tập đoàn mua hàng, hệ thống phân phối quốc tế. Đây là cách đưa thị trường đến gần hơn với doanh nghiệp, đồng thời giúp các nhà mua hàng tiếp cận nhanh hơn với nguồn cung phù hợp tại TPHCM và các vùng sản xuất liên kết.
Cùng với khai thác tốt các hiệp định thương mại tự do, thành phố cũng hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sang thị trường mới, thị trường ngách, sản phẩm xanh, Halal và thương mại điện tử xuyên biên giới. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được đổi mới theo hướng số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tăng kết nối trực tiếp với nhà nhập khẩu.
* Ông KEVIN GENEUGLIJK, Giám đốc Phát triển kinh doanh Berkman Forwarding BV, Hà Lan (chuyên giao nhận, vận chuyển hàng hóa):
Độ tin cậy trở thành một phần giá trị sản phẩm
Giá, chất lượng và thời gian giao hàng vẫn là những yếu tố cơ bản trong thương mại quốc tế, nhưng người mua ngày càng đánh giá nhà cung cấp qua khả năng thực hiện cam kết một cách ổn định. Một sản phẩm có giá thấp nhưng đến trễ, phát sinh chi phí lưu kho hoặc không đáp ứng đúng thời điểm thị trường cần sẽ không còn là sản phẩm có chi phí thấp.
Điều này càng quan trọng với nông sản và thực phẩm bởi thời gian vận chuyển tác động trực tiếp đến chất lượng, thời hạn sử dụng và giá trị thương mại của hàng hóa. Doanh nghiệp vì vậy cần tính tổng chi phí của toàn chuỗi thay vì chỉ nhìn vào cước vận chuyển. Việc lựa chọn tuyến đi, thời gian giao nhận, kho lạnh, khả năng chuyển đổi phương án vận tải và xử lý các yêu cầu tuân thủ đều cần được chuẩn bị trước khi hàng rời nhà máy.
Trong bối cảnh chuỗi vận tải có thể chịu tác động từ nhiều biến động bên ngoài, doanh nghiệp cũng cần hạn chế phụ thuộc vào một tuyến hoặc một phương án logistics duy nhất. Khi doanh nghiệp giao đúng sản phẩm, đúng chất lượng và đúng thời điểm một cách ổn định, độ tin cậy trở thành một phần giá trị của hàng hóa.