Từ năm 2026, mức trợ cấp thất nghiệp tối đa sẽ được xác định thống nhất dựa trên lương tối thiểu vùng, thay cho cách tính phân biệt giữa khu vực công và khu vực tư như trước đây. Theo đó, mức hưởng cao nhất có thể lên tới 26,55 triệu đồng.
Luật Việc làm (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/1, tiếp tục quy định người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, mức chi trả tối đa không vượt quá 5 lần lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm tháng cuối cùng người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Với quy định mới, cách tính mức hưởng trần được áp dụng chung cho mọi đối tượng, căn cứ vào lương tối thiểu vùng, thay vì trước đây khu vực doanh nghiệp áp dụng lương tối thiểu vùng còn khu vực nhà nước tính theo lương cơ sở.
Kể từ ngày 1/1, mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh lần lượt là: vùng I 5,31 triệu đồng; vùng II 4,73 triệu đồng; vùng III 4,14 triệu đồng và vùng IV 3,7 triệu đồng mỗi tháng. Trên cơ sở này, mức trợ cấp thất nghiệp tối đa người lao động có thể nhận được dao động từ 18,5 triệu đồng đến 26,55 triệu đồng, tùy thuộc khu vực áp dụng lương tối thiểu.
Mức hưởng trần nói trên sẽ tiếp tục được điều chỉnh tăng tương ứng trong trường hợp Chính phủ ban hành mức lương tối thiểu vùng mới trong thời gian tới.

Nới điều kiện hưởng, rút ngắn thời gian chi trả trợ cấp thất nghiệp
Luật Việc làm 2025 đã có những điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn cho người lao động cả về điều kiện hưởng lẫn thời gian bắt đầu nhận trợ cấp thất nghiệp.
Về điều kiện hưởng, Điều 38 Luật Việc làm 2025 quy định người lao động thuộc diện tại khoản 1 Điều 31 của Luật này, đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, sẽ được hưởng trợ cấp khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt việc làm đúng quy định pháp luật; không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật theo Bộ luật Lao động và cũng không phải nghỉ việc để hưởng lương hưu.
Đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24 tháng ngay trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt việc làm theo quy định.
Riêng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, điều kiện được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn: phải đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Quy định này khác với Luật Việc làm 2013, khi tất cả các loại hợp đồng lao động đều phải đáp ứng yêu cầu đóng bảo hiểm thất nghiệp tối thiểu 12 tháng trong 24 tháng trước khi nghỉ việc. Như vậy, luật mới đã nới lỏng điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm đối với nhóm lao động có hợp đồng dưới 12 tháng.
Ngoài ra, người lao động phải nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt việc làm.
Sau khi nộp đủ hồ sơ, trong vòng 10 ngày làm việc, người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp nếu rơi vào một trong các trường hợp: đã có việc làm và thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ trong Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng; bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị tạm giam, chấp hành án phạt tù, ra nước ngoài định cư hoặc qua đời.
Về thời gian bắt đầu nhận trợ cấp, khoản 3 Điều 39 Luật Việc làm 2025 quy định thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày làm việc thứ 11 kể từ ngày người lao động nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện, người lao động sẽ được nhận trợ cấp chỉ sau 11 ngày làm việc.
Trong khi đó, theo khoản 3 Điều 50 Luật Việc làm 2013, thời điểm hưởng trợ cấp là ngày thứ 16 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ. Như vậy, so với quy định cũ, thủ tục giải quyết đã được rút ngắn thêm 5 ngày làm việc, giúp người lao động sớm tiếp cận nguồn hỗ trợ khi mất việc.
(Tổng hợp/Ảnh minh họa: Internet)