Cuộc khởi nghĩa trong tiểu thuyết Thủy hử của Thi Nại Am và trong chính sử (Tống sử) có sự khác biệt rất lớn về quy mô, lực lượng lẫn kết cục. Trên thực tế, cuộc nổi dậy do Tống Giang lãnh đạo bị dẹp chỉ sau 2 năm, còn trong Thủy hử , nó được nâng tầm thành tấn bi kịch phản ánh hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc thời bấy giờ.
Tiểu thuyết “Thủy hử” được dựng thành phim truyền hình.
Số tướng lĩnh trong tiểu thuyết hùng hậu hơn nhiều
Lực lượng cốt lõi của Lương Sơn Bạc trong tiểu thuyết Thủy hử chính là 108 vị anh hùng, đại diện cho 36 ngôi sao Thiên Cương và 72 ngôi sao Địa Sát giáng trần. Đây là bộ khung lãnh đạo cao nhất, chi phối toàn bộ hoạt động quân sự và chính trị của nghĩa quân.
Bộ chỉ huy tối cao gồm có: Tống Giang (Cập Thời Vũ) - giữ vai trò minh chủ, thu phục lòng người bằng nghĩa khí và tư tưởng “Thế thiên hành đạo” (thay trời hành đạo); phó thủ lĩnh Lư Tuấn Nghĩa (Ngọc Kỳ Lân) - có uy danh lừng lẫy, võ nghệ cao cường nhất Lương Sơn, là chỗ dựa vững chắc về mặt quân sự; tổng quân sư Ngô Dụng (Trí Đa Tinh) và phó quân sư Chu Vũ (Thần Cơ quân sư) - bày mưu tính kế, bài binh bố trận; Trưởng tế/Pháp sư Công Tôn Thắng (Nhập Vân Long) - phụ trách các yếu tố tâm linh, phép thuật kỳ ảo.
Lực lượng chiến đấu tinh nhuệ của Lương Sơn được chia thành các nhóm chuyên biệt. Nhóm kỵ binh do Ngũ hổ tướng (Quan Thắng, Lâm Xung, Tần Minh, Hô Diên Chước, Đổng Bình) đứng đầu.
Bộ binh do các dũng tướng như Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng, Lý Quỳ, Lưu Đường chỉ huy. Họ chuyên đánh giáp lá cà, công thành và tác chiến ở những địa hình hiểm trở.
Lương Sơn vốn là vùng sông nước bao quanh, do đó thủy quân là tuyến phòng thủ kiên cố nhất. Lực lượng này do Lý Tuấn (Hỗn Giang Long), ba anh em nhà họ Nguyễn (Nguyễn Tiểu Nhị, Nguyễn Tiểu Ngũ, Nguyễn Tiểu Thất) và anh em Trương Hoành, Trương Thuận thống lĩnh.
Ngoài ra, họ còn có các bộ phận hỗ trợ như do thám, quản lý tài chính - quân lương, hậu cần... Chính nhờ sự phân công khoa học và gắn kết chặt chẽ giữa 108 hạt nhân cốt lõi này mà nghĩa quân Lương Sơn Bạc trở thành thế lực làm rung chuyển cả triều đình nhà Tống trong thế giới văn học.
Các anh hùng Lương Sơn Bạc.
Theo ghi chép trong Tống sử , sách Hầu Mông truyện và thoại bản Đại Tống Tuyên Hòa di sự , lực lượng cốt lõi của nghĩa quân chỉ gồm 36 thủ lĩnh. Triều đình Bắc Tống lúc bấy giờ gọi họ là “bọn giặc Tống Giang 36 người”, phạm vi hoạt động chủ yếu ở các vùng Hà Sóc, Tề, Ngụy.
Trong số 36 thủ lĩnh được sử sách thừa nhận, phần lớn tên tuổi đã bị thất lạc hoặc không có hành trạng rõ ràng. Các nhà sử học chỉ xác minh được khoảng 5 nhân vật cốt lõi thực sự tồn tại và tham gia cuộc nổi dậy.
Người đầu tiên là thủ lĩnh Tống Giang. Ông có tài cầm quân du kích, khiến các quan binh triều đình bấy giờ phải khiếp sợ dâng sớ nói: “Bọn Tống Giang 36 người hoành hành... quan quân mấy vạn không dám nghinh chiến”.
Võ Tòng là đầu lĩnh thứ 30 của nghĩa quân. Tuy nhiên, ông không hề “đả hổ trên đồi Cảnh Dương” mà là một nghĩa sỹ có võ nghệ cao cường, từng bị triều đình treo thưởng tới 10 triệu quan tiền để truy bắt.
Dương Chí và Yến Thanh đều là những thủ lĩnh có thật trong nhóm nổi dậy năm 1120. Sau khi quy hàng, Dương Chí trở thành tướng chỉ huy quân đội chống quân Kim xâm lược (giai đoạn 1126-1127), còn Yến Thanh trở thành một võ sư lừng danh ở vùng Hà Bắc.
Sử sách có nhắc đến việc Tống Giang bị thua trận và mất đi danh tướng Lư Tuấn Nghĩa trước khi buộc phải quy hàng triều đình.
Con số 108 anh hùng thực chất là sự lồng ghép thế giới quan Đạo giáo (36 Thiên Cương, 72 Địa Sát) của tác giả Thi Nại Am, kết hợp với việc gom các cuộc khởi nghĩa nông dân nhỏ lẻ khác diễn ra cùng thời kỳ vào làm một để tạo nên một tập đoàn Lương Sơn hùng mạnh trên trang sách.
Trong thực tế lịch sử lực lượng cốt lõi của nghĩa quân Lương Sơn Bạc chỉ gồm 36 thủ lĩnh, do Tống Giang đứng đầu.
Quân số thực tế rất “hẻo”
Trong tiểu thuyết Thủy hử của Thi Nại Am, quân số của nghĩa quân Lương Sơn Bạc không cố định mà phát triển theo từng giai đoạn. Thời sơ khai, Lương Sơn ban đầu chỉ là một toán cướp nhỏ chiếm núi làm loạn với quy mô khoảng 700 - 800 người.
Sau khi Tống Giang lên ngôi chủ trại và thực hiện đại tụ nghĩa, quân số Lương Sơn phát triển vượt bậc nhờ thu phục binh lính triều đình thua trận và sáp nhập các thế lực địa phương (như Chúc Gia Trang, Tăng Đầu Thị). Quân số ước tính khoảng 100.000 người (10 vạn quân).
Sau chiến dịch bình định Phương Lạp ở miền Nam, phần lớn quân lính và các đầu lĩnh hảo hán của Lương Sơn Bạc tử trận hoặc ly tán.
Trong thực tế lịch sử, quy mô quân số của cuộc khởi nghĩa Tống Giang (Lương Sơn Bạc) nhỏ hơn rất nhiều so với con số “chục vạn quân” trong tiểu thuyết. Theo ghi chép trong Tống sử và các tài liệu đương thời, toàn bộ lực lượng nghĩa quân ước tính chưa đầy 10.000 người (dưới 1 vạn quân).
Cuộc khởi nghĩa thực ra rất ngắn, nhiều thất bại
Trong tiểu thuyết Thủy hử, tiến trình chiến đấu của nghĩa quân Lương Sơn Bạc dưới sự lãnh đạo của Tống Giang được miêu tả như một thiên anh hùng ca hoành tráng, trải qua 3 giai đoạn lớn từ lúc tập hợp lực lượng, đối đầu đỉnh điểm với triều đình cho đến khi nhận chiêu an và tan rã.
Giai đoạn gom quân và mở rộng thế lực: Trước và ngay sau khi Tống Giang lên núi, nghĩa quân chủ yếu chiến đấu với các thế lực cường hào địa phương và các phủ thành lân cận để giải cứu đồng đội hoặc tích trữ quân lương. Các trận đánh tiêu biểu trong giai đoạn này là: Ba lần đánh Chúc Gia Trang, đánh Cao Đường châu; đánh phá phủ Đông Bình và phủ Đông Xương
Giai đoạn chống lại triều đình: Đây cũng được coi là giai đoạn phát triển đỉnh cao của khởi nghĩa Lương Sơn Bạc trong tiểu thuyết Thủy hử . Họ liên tiếp tạo nên những chiến thắng vang dội như: Phá trận Liên hoàn giáp mã của Hô Diên Chước, đánh bại Thái úy Đồng Quán, ba lần đánh bại và bắt sống Thái úy Cao Cầu.
Giai đoạn cuối cùng: Lãnh đạo Lương Sơn Bạc chấp nhận chiêu an, nghe theo lệnh triều đình đi bình định các thế lực phản loạn khác như Điền Hổ, Phương Lạp.
Trong thực tế lịch sử (theo ghi chép trong Tống sử và các văn bia cổ), tiến trình chiến đấu của Tống Giang và 36 thủ lĩnh ngắn ngủi, khốc liệt và ít hào nhoáng hơn nhiều so với tiểu thuyết. Nó chỉ diễn ra trong khoảng 2 năm (1119 - 1121), mang đậm tính chất của một đội quân du kích lưu động.
Nghĩa quân thực tế không hề xây dựng căn cứ địa cố định với hàng vạn quân đồn trú tại đầm nước Lương Sơn như truyện mô tả. Lực lượng này hoạt động theo mô hình quân du kích lưu động. Họ di chuyển liên tục qua hàng loạt châu huyện thuộc các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc ngày nay.
Với quân số gọn nhẹ (vài nghìn người), họ có thể hành quân thần tốc, bất ngờ tấn công vào các phủ thành yếu kém của nhà Tống, cướp kho lương rồi nhanh chóng rút lui trước khi viện binh triều đình kịp tới.
Mặc dù gây ra một số khiếp sợ nhất định đối với triều đình, nhìn chung cuộc khởi nghĩa của Tống Giang gặp nhiều thất bại, thua cả 3 trận lớn trước các tướng Tưởng Viên, Vương Sư Tâm, Trương Thúc Dạ và cuối cùng là phải đầu hàng triều đình.
Võ Tòng và Lỗ Trí Thâm trong Thủy Hử.
Kết cục của các anh hùng Lương Sơn Bạc giữa tiểu thuyết và thực tế lịch sử có sự khác biệt vô cùng lớn. Trong Thủy hử, phần lớn các hảo hán đều kết thúc bởi cái chết bi tráng và sự chia ly.
Những người bị triều đình hãm hại gồm: Tống Giang, Lư Tuấn Nghĩa, Lý Quỳ, Ngô Dụng, Hoa Vinh. 59 người tử trận trong chiến dịch Phương Lạp, 11 người chết vì bệnh tật.
Một số ít có kết thúc đẹp như: Lỗ Trí Thâm và Võ Tòng xuất gia, ngộ đạo, Yến Thanh sống ẩn dật, Lý Tuấn vượt biển sang nước Xiêm và trở thành vua.
Ngoài đời thực, không có con số 108 người hùng nên không có danh sách kết cục dài như tiểu thuyết. Sử sách chỉ ghi lại kết cục rất ngắn gọn của bộ khung lãnh đạo.
Sau khi bị tướng Trương Thúc Dạ phục kích đốt thuyền tại Hải Châu năm 1121, Tống Giang buộc phải dẫn các thủ lĩnh còn lại quy hàng triều đình Bắc Tống. Sách sử chép rằng một năm sau (năm 1122), Tống Giang có ý định tiếp tục dấy binh làm loạn nên đã bị triều đình nhà Tống bắt giữ và xử tử.
Về các thủ lĩnh khác như Võ Tòng, Dương Chí, Yến Thanh..., một số tài liệu dã sử và văn bia địa phương ghi lại rằng sau khi hàng triều đình, họ được biên chế vào quân đội chính quy để chống lại quân Kim xâm lược. Nhiều người trong số họ hy sinh khi Biện Kinh mất vào tay nhà Kim (bi kịch Tĩnh Khang năm 1127).
Tóm lại, nếu như ngoài đời thực, kết cục của nghĩa quân Tống Giang kết thúc nhanh chóng chỉ sau hai năm khởi nghĩa thì dưới ngòi bút của Thi Nại Am, kết cục của họ đã được nâng tầm thành một tấn bi kịch văn học sâu sắc, phản ánh đúng hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc thời bấy giờ: “Anh hùng hết lòng trung nghĩa nhưng vẫn bị gian thần bức tử”.