Tổng thống Mỹ Donald Trump giám sát cuộc tấn công vào Iran ngày 1/3. Ảnh: AFP
Theo ông Kent Smetters, Giám đốc Penn Wharton Budget Model (PWBM), đồng thời là một trong những chuyên gia tài khóa hàng đầu nước Mỹ, tổng chi phí kinh tế mà nước Mỹ phải gánh chịu cho các đợt tấn công quy mô lớn nhằm vào Iran có thể lên tới 210 tỷ USD.
Ông cũng chính người đưa ra mô hình phân tích tác động tài chính và kinh tế vĩ mô của chính sách liên bang được ứng dụng tại nhiều tổ chức ở Washington. Đồng thời, ông từng làm chuyên gia kinh tế tại Văn phòng Ngân sách Quốc hội và Phó trợ lý bộ trưởng phụ trách Chính sách Kinh tế tại Bộ Tài chính Mỹ.
Cụ thể, vị chuyên gia này phân tích, chi phí quân sự cho chiến dịch quân sự trên dao động từ 40 tỷ USD - 95 tỷ USD, tùy quy mô và thời gian tấn công. Nhưng mô hình của ông dự báo mức chi phí có khả năng dễ xảy ra nhất là 65 tỷ USD. Số tiền này sẽ bao gồm chi phí vận hành các hoạt động quân sự trực tiếp, thay thế vũ khí, khí tài.
Ông Kent Smetters nhấn mạnh rằng, nếu cuộc chiến kéo dài hơn hai tháng, con số này chắc chắn tăng lên.
Hơn nữa, bên cạnh các khoản chi tiêu quân sự trực tiếp, ông Smetters dự báo nền kinh tế Mỹ sẽ thiệt hại thêm 115 tỷ USD, với biên độ dao động rất rộng, đó là từ 50 tỷ USD đến 210 tỷ USD, tùy tình hình thực tế.
Theo ông, thiệt hại này đến từ việc giao thương bị đình trệ, giá năng lượng biến động và thị trường tài chính bất ổn, cùng với những hệ lụy thường thấy khi Trung Đông có chiến tranh kéo dài.
Ngoài ra, Mỹ còn đối mặt với khoản chi 179 tỷ USD liên quan đến thuế đối ứng IEEPA. Cụ thể, sau phán quyết của Tòa án Tối cao về việc loại thuế này là sai quy định, chính phủ Mỹ có thể buộc phải trả lại toàn bộ số tiền đó cho các doanh nghiệp và người đóng thuế Mỹ.
Thậm chí, ngay cả trước khi tiếng súng nổ ra, Mỹ cũng đã phải chi khoảng 630 triệu USD cho việc dàn quân, điều động hàng chục tàu chiến và hơn 100 phi cơ tới Trung Đông.
Trong khi đó, theo cựu quan chức ngân sách Elaine McCusker, khoản chi này vẫn nằm trong tầm kiểm soát của gói ngân sách quốc phòng 839 tỷ USD năm nay, nhưng cũng sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng nếu cuộc chiến kéo dài hơn hai tháng.
Trên thực tế, cuộc xung đột bắt đầu ngày 28/2 khi Tổng thống Donald Trump phê chuẩn chiến dịch quân sự chung Mỹ - Israel nhằm vào hạ tầng tên lửa đạn đạo, lực lượng hải quân và chương trình hạt nhân của Iran. Ngay sau đó, lãnh tụ Tối cao Iran, Đại giáo chủ Ali Khamenei, được truyền thông nhà nước Iran xác nhận đã thiệt mạng.
Tổng thống Mỹ mô tả chiến dịch là phản ứng cần thiết trước "mối đe dọa hạt nhân cận kề" từ Iran, đồng thời cho rằng Mỹ đã cạn kiệt các lựa chọn ngoại giao sau khi Iran từ chối mọi cơ hội từ bỏ tham vọng hạt nhân. Trong khi đó, Iran khẳng định, quốc gia này không theo đuổi vũ khí hạt nhân và họ có quyền theo đuổi chương trình nguyên tử vì mục tiêu hòa bình.
Kinh tế Mỹ đứng trước phép thử mới
Cận cảnh trực thăng MH-60S Sea Hawk chuẩn bị hỗ trợ cuộc tấn công cho Chiến dịch "Cơn thịnh nộ kinh hoàng" vào Iran. Ảnh: Reuters
Xung đột đã kéo dài sang ngày thứ 4 và lan rộng ra nhiều nước tại Trung Đông.
Chiến sự đã khiến giá dầu thô thế giới phiên 2/3 có thời điểm tăng từ 70 USD lên sát 80 USD một thùng. Đáng chú ý, hoạt động vận chuyển qua tuyến đường thủy huyết mạch là eo biển Hormuz gần như bị tê liệt.
Theo giới chuyên gia, dù Mỹ ít chịu ảnh hưởng từ cú sốc năng lượng hơn so với các quốc gia khác nhờ vào sản lượng khai thác dầu khí lớn, nhưng chiến sự vẫn có thể làm ảnh hưởng tới thương mại, giá cả, đầu tư. Đặc biệt, chiến sự có thể làm suy yếu triển vọng tăng trưởng tích cực đang hình thành năm nay của kinh tế Mỹ.
Trong báo cáo mới nhất được công bố, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá triển vọng kinh tế Mỹ "khởi sắc". Tuy nhiên, kịch bản này đang bị đe dọa bởi xung đột khó lường tại Trung Đông, khu vực sản xuất dầu chủ chốt của thế giới. Theo đó, chiến sự sẽ gây ra nhiều hệ lụy khôn lường với vận tải biển, chuỗi cung ứng và giá hàng hóa toàn cầu.
Hơn nữa, tác động đến kinh tế Mỹ và chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cũng bị phụ thuộc vào đà tăng của giá dầu và nguy cơ leo thang xung đột. Các nhà phân tích tại SGH Macro Advisors nhận định rằng, chiến sự với Iran là một biến số khó lường.
Biểu tình phản đối Mỹ tấn công Iran tại thành phố Seattle, bang Washington (Mỹ), ngày 28/2. Ảnh: AP
Trên thực tế, theo khảo sát của Reuters/Ipsos, có 25% người dân Mỹ ủng hộ chiến dịch không kích Iran. Đáng chú ý, trong nội bộ đảng Cộng hòa, cũng chỉ có 25% số người đồng tình với việc Tổng thống Trump sử dụng vũ lực với Iran, khi những lo ngại về nợ công đang ngày một gia tăng.
Nhưng đứng dưới góc độ chiến lược dài hạn, chuyên gia Kent Smetters vẫn đưa ra một góc nhìn thận trọng khi cho rằng cái giá của việc "không hành động" có thể thậm chí còn đắt hơn nhiều lần. Bởi nếu Iran thực sự sở hữu vũ khí hạt nhân, nước Mỹ có thể sẽ phải tốn kém hơn gấp bội cho các hoạt động quân sự trong tương lai, thậm chí là đối mặt với chi phí khổng lồ không thể đo đếm nhằm khắc phục hậu quả nếu một thành phố lớn bị tấn công.
Bài tham khảo nguồn: Fortune, Reuters, Bloomberg