40 năm trước, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, KTS Tạ Mỹ Duật và một kiến trúc sư trẻ Hà Nội đã soạn một bản "Kiến nghị về khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm" trước nguy cơ cảnh quan cảnh quan khu vực này bị phá vỡ bởi sức ép phát triển đô thị. Điều đặc biệt, nhiều nguyên tắc nêu trong bản kiến nghị lại tiếp tục trở thành đề tài tranh luận sau 40 năm khi Hà Nội lấy ý kiến nhân dân về bản phương án điều chỉnh quy hoạch không gian hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm).
Bản kiến nghị 7 điểm bước đầu đặt ra các nguyên tắc cốt lõi về chiều cao, quy mô, kiến trúc, mặt tiền công trình… nằm trong quy hoạch không gian Hồ Gươm. Tư liệu gốc về bản kiến nghị hiện được gia đình KTS Tạ Mỹ Duật lưu giữ, bao gồm: bản viết tay phác thảo 7 nhóm kiến nghị; thư kiến nghị xếp hạng khu văn hoá, cảnh quan, lịch sử Hồ Gươm gửi Bộ Văn hoá Thông tin; thư hồi đáp của Phó Chủ tịch Quốc hội Phan Anh đề ngày 26/8/1986, cùng những bài báo thể hiện quan điểm, triết lý quy hoạch bảo vệ Hồ Gươm của KTS Tạ Mỹ Duật – nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Hà Nội và nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện..
Nhiều nguyên tắc từ bản kiến nghị sau này được các cơ quan chức năng tiếp thu, nhưng cũng có những cảnh báo quan ngại về nguy cơ phá vỡ cảnh quan Hồ Gươm đã thành sự thực. 40 năm sau, lại xuất hiện tranh luận về những nguyên tắc từng nêu ra trong bản kiến nghị như việc hình thành các công trình mới cao tầng, không gian ngầm, giao thông, thương mại và chỉnh trang cảnh quan...
Vậy, bài học nào rút ra từ bản kiến nghị đặc biệt của nhóm trí thức tâm huyết với Hà Nội? Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Quang - nguyên Giám đốc Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-Habitat), người trực tiếp tham gia hoàn thiện hồ sơ bản kiến nghị cùng các trí thức tiền bối.

PV: Thưa ông, vào thời điểm 40 năm trước, vì sao các vị trí thức tiền bối quyết tâm đưa ra một văn bản như vậy?
TS Nguyễn Quang: Tôi nghĩ trước hết phải trở lại bối cảnh của Hà Nội những năm 1980. Khi ấy, Hà Nội bắt đầu đứng trước những thay đổi rất mạnh. Nhu cầu xây dựng, cải tạo, mở rộng các cơ quan, phát triển kinh doanh ngày càng lớn.
Khu vực Hồ Gươm, vốn là một không gian đặc biệt về lịch sử, văn hóa và cảnh quan, cũng bắt đầu chịu sức ép của quá trình hiện đại hóa.

Chúng tôi khi ấy nhìn thấy rất rõ nguy cơ: Nếu mỗi công trình được quyết định riêng rẽ, mỗi nhu cầu sử dụng đất được giải quyết theo cách riêng, thì từng công trình xuất hiện đều có lý do hợp lý, nhưng cộng lại sẽ làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Hồ Gươm. Đó chính là lý do bản kiến nghị ra đời.
KTS Tạ Mỹ Duật nhìn vấn đề từ góc độ quy hoạch và tổ chức không gian; nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đặt vấn đề từ góc độ văn hóa, con người và đời sống. Còn tôi, khi ấy là một kiến trúc sư trẻ, tham gia chụp ảnh, trình bày và hoàn thiện hồ sơ.
Nhưng thực tế chúng tôi cùng trao đổi, cùng suy nghĩ về một câu hỏi chung: Làm thế nào để Hồ Gươm có thể tiếp tục sống cùng một Hà Nội hiện đại mà không đánh mất giá trị vốn có?
PV: Vậy bản kiến nghị về Hồ Gươm đã nhận được phản hồi thế nào từ phía cơ quan chức năng?
TS Nguyễn Quang: Tôi còn nhớ bản kiến nghị đã được trình bày và thảo luận tại trụ sở cũ của Hội Kiến trúc sư (ở 23 Đinh Tiên Hoàng) và trụ sở Đảng Xã hội khi ấy (ở 53 Nguyễn Du). Bản kiến nghị đón nhận nhiều ý kiến tích cực của các chuyên gia và đại diện các ban ngành xây dựng. Hồ sơ kiến nghị lúc đó cũng được chuyển tận tay luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch Quốc hội khoá 7 để gửi tới các lãnh đạo.
KTS Tạ Mỹ Duật và nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện cũng viết thư gửi Bộ Văn hoá Thông tin, đề nghị xếp hạng Hồ Gươm là khu vực cảnh quan văn hoá lịch sử. Hai ông cũng viết nhiều bài báo nêu quan điểm bảo tồn cảnh quan và hạn chế xây dựng tại khu vực này. Tuy nhiên, tôi không nhớ và cũng không có trong tay một văn bản chính thức để có thể nói rằng khi ấy các cơ quan hữu quan đã phản hồi bản kiến nghị thế nào. Tôi nghĩ đây là điều cần nói một cách trung thực.
Điều tôi nhớ rõ hơn là chúng tôi đã làm bản kiến nghị với tinh thần rất xây dựng. Đó không phải là một văn bản phản đối xây dựng hay hiện đại hóa Hà Nội. Chúng tôi chỉ muốn đặt ra một giới hạn cần thiết đối với một không gian đặc biệt như Hồ Gươm. Có lẽ cũng vì thế mà điều đáng quý không nằm ở việc bản kiến nghị đã được tiếp thu bao nhiêu. Mà quý nhất ở chỗ một nhóm trí thức lúc ấy đã ý thức rất sớm rằng những quyết định tưởng như riêng lẻ về kiến trúc, giao thông, cây xanh, kinh doanh hay xây dựng công trình đều có thể cộng hưởng và làm thay đổi cả một không gian lịch sử.

PV: Đọc lại bản kiến nghị 40 năm trước và so sánh với phương án điều chỉnh quy hoạch Hồ Gươm đã kết thúc lấy ý kiến góp ý, ông nhìn nhận thế nào?
TS Nguyễn Quang: Trong bản kiến nghị, có một ý mà đến hôm nay tôi vẫn thấy rất đáng suy nghĩ. Khu vực Hồ Gươm là một chỉnh thể gồm mặt hồ, cây xanh, kiến trúc, đường phố, không gian mở, tầm nhìn, con người và ký ức lịch sử. Chính sự cộng hưởng của những yếu tố ấy mới tạo nên giá trị đặc biệt của Hồ Gươm. Đó là vẻ đẹp thiên nhiên hòa với chiều sâu lịch sử.
Đọc lại tài liệu sau gần 40 năm, điều khiến tôi suy nghĩ nhất là câu hỏi: mỗi sự thay đổi mới sẽ làm giàu thêm giá trị của Hồ Gươm hay lấy đi một phần giá trị mà các thế hệ trước đã để lại?
Hôm nay, câu hỏi ấy vẫn còn nguyên giá trị, thậm chí trở nên cấp thiết hơn bởi năng lực xây dựng của chúng ta lớn hơn rất nhiều, công nghệ cũng tiên tiến hơn, nguồn lực đầu tư lớn hơn. Vì vậy, khả năng làm thay đổi một không gian di sản cũng lớn hơn trước rất nhiều.

PV: Từ bản kiến nghị, những nguyên tắc nào sau đó đã thực sự đi vào quy hoạch, quy chế quản lý Hồ Gươm, thưa ông?
TS Nguyễn Quang: Có một điều khá rõ là nhiều nguyên tắc mà chúng tôi từng đặt ra trong bản kiến nghị đã dần trở thành nguyên tắc chính thức trong quy hoạch và quản lý Hồ Gươm.
Khu vực hồ hiện đang được quản lý theo một hệ thống hành lang pháp lý đa tầng và chặt chẽ. Cụ thể: Quy hoạch Phân khu đô thị H1-B1 quản lý kiến trúc cảnh quan và phân khu chức năng; Quy chế quản lý kiến trúc thành phố Hà Nội kiểm soát hình thái kiến trúc; các quyết định 24/2015 (đối với khu phố cũ); quyết định 6398 của UBND (cho khu phố cổ); quyết định 11/2016 (cho nội đô lịch sử)…, là khung pháp lý khống chế chiều cao công trình mới xung quan khu vực Hồ Gươm.
Ngoài ra, Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn đã được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt nên mọi hoạt động tác động đến khu vực này phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Di sản Văn hoá và Nghị định 166 năm 2018 của Chính phủ.
PV: Xét theo từng lớp bảo vệ Hồ Gươm, sự tiếp nối từ bản kiến nghị cụ thể như thế nào?
TS Nguyễn Quang: Cách diễn đạt và công cụ quản lý ngày nay đã khác rất nhiều. Tuy nhiên, nếu nhìn theo từng lớp thì có thể thấy sự tiếp nối khá rõ, bao gồm: Giá trị di sản và lịch sử của toàn khu vực; quan hệ giữa các công trình trong tổng thể không gian kiến trúc; chiều cao, mật độ, khoảng lùi và quy mô xây dựng; cây xanh, mặt nước, quảng trường và cảnh quan; không gian văn hoá, không gian đi bộ và sinh hoạt cộng đồng; giao thông và môi trường đô thị.

Sau 40 năm, các nguyên tắc trên đã được cụ thể hoá bằng công cụ quản lý và tư duy quy hoạch trong nhiều văn bản. Hồ Gươm không còn được nhìn chủ yếu như một khu vực có các công trình hành chính, thương mại và giao thông, mà ngày càng được nhìn như một không gian công cộng trung tâm của Hà Nội. Việc phát triển không gian đi bộ, quảng trường, công viên, các hoạt động văn hóa – nghệ thuật và tăng cường kết nối giữa Hồ Gươm với những không gian văn hóa xung quanh là một bước tiến rất quan trọng.
Đáng chú ý, chiều cao, mật độ và quy mô xây dựng có lẽ là vấn đề mà bản kiến nghị 40 năm trước cảnh báo rất sớm. Về giao thông và mở rộng không gian, đến thời điểm này, tôi cho rằng những phương án mới về không gian ngầm, bãi đỗ xe, dịch vụ và kết nối ga C9- TOD vẫn cần được xem xét trên nguyên tắc không làm gia tăng áp lực lên không gian Hồ Gươm.
Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ đến một câu hỏi quan trọng hơn: Có nguyên tắc rồi thì thực hiện đến đâu? Bởi Hồ Gươm là một không gian đặc biệt đến mức chỉ cần một số quyết định riêng lẻ thiếu nhất quán cũng có thể làm thay đổi tổng thể. Điều chúng ta cần không chỉ là thêm những quy định mới, mà cần một nguyên tắc xuyên suốt và một cơ chế quản lý đủ mạnh để các quy định ấy không bị phá vỡ bởi từng dự án riêng biệt. Có lẽ, đây chính là bài học lớn nhất khi nhìn lại bản kiến nghị gần 40 năm trước.
PV: Nhân nhắc tới việc không để cảnh quan Hồ Gươm bị phá vỡ bởi từng "dự án riêng biệt", tôi cũng muốn đề cập công trình từng gây tranh cãi song vẫn được xây dựng và được phá bỏ mới đây: toà nhà "Hàm Cá Mập". Đó có phải là một trong những bài học đắt giá nhất trong việc cải tạo không gian quanh hồ?
TS Nguyễn Quang: Hồ Gươm luôn phải chịu sức ép của những nhu cầu phát triển rất cụ thể, và trước những giá trị bảo tồn rất khó định lượng. Toà nhà "Hàm Cá Mập" là một ví dụ khá điển hình.
Khi công trình được xây dựng năm 1991 và hoàn thành năm 1993, nó không chỉ là câu chuyện của riêng một tòa nhà. Nó đặt ra câu hỏi về quan hệ giữa một công trình mới xây dựng theo nhu cầu thị trường với những giá trị di sản như không gian quảng trường, mặt nước hồ, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Rùa, các tuyến phố… và với hình ảnh tổng thể của Hồ Gươm.
Đó cũng là lý do mà vào thời điểm mới xây dựng công trình 5 tầng đó bị dư luận phê phán và đặt biệt danh là "Hàm Cá Mập".
Bản kiến nghị mà chúng tôi làm cách đây gần 40 năm cũng đã nhìn vấn đề theo cách đó. Một công trình đứng một mình có thể được đánh giá là đẹp, hiện đại, có công năng tốt. Nhưng đặt nó vào một không gian đặc biệt thì tiêu chí đánh giá phải rộng hơn rất nhiều. Kiến trúc không tồn tại một mình, nó tạo ra hoặc phá vỡ mối quan hệ với không gian xung quanh.
PV: Hiện tại, áp lực lên không gian Hồ Gươm còn lớn hơn nhiều. Lời giải cho vấn đề này thế nào từ quan điểm của ông?
TS Nguyễn Quang: Hồ Gươm hiện nay không chỉ đứng trước áp lực xây dựng công trình. Chúng ta còn phải giải quyết giao thông, không gian đi bộ, du lịch, thương mại, cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật, di sản, các hoạt động văn hóa và nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Vì vậy, bài toán hôm phải là tổ chức lại toàn bộ không gian cảnh quan văn hoá lịch sử Hồ Gươm như một chỉnh thể.
Những nguyên tắc về bảo tồn cảnh quan lịch sử, kiểm soát chiều cao, tầm nhìn, mật độ xây dựng, không gian công cộng, cây xanh, giao thông đi bộ... thực ra không phải là những điều mới mẻ. Chúng ta không thiếu tri thức bởi Hà Nội cũng có rất nhiều kiến trúc sư, nhà quy hoạch, nhà nghiên cứu có chuyên môn và kinh nghiệm.
PV: Vậy tại sao những tri thức và cách tiếp cận đúng đắn về quy hoạch không gian Hồ Gươm có thể khó được triển khai trong thực tế đến thế?
TS Nguyễn Quang: Vấn đề khó hơn nằm ở cơ chế ra quyết định và cách chúng ta cân bằng những lợi ích khác nhau.
Quy hoạch là một quá trình phải lựa chọn. Một bên là lợi ích trước mắt với những nhu cầu rất cụ thể: thêm diện tích sử dụng, thêm không gian và cơ hội kinh doanh, thêm hạ tầng, tiện ích... Một bên là những giá trị lâu dài như: cảnh quan, ký ức đô thị, bản sắc và quyền được hưởng một không gian công cộng tốt của các thế hệ tương lai.
Những lợi ích trước mắt thường dễ nhìn thấy và dễ tính toán bằng tiền. Trong khi giá trị của một tầm nhìn đẹp, một khoảng không gian thoáng, một hàng cây hay cảm giác đặc biệt của Hồ Gươm thì khó đưa vào một bảng tính kinh tế. Đó là một trong những lý do khiến điều tưởng như rất đúng về quy hoạch lại khó thực hiện.

Chính vì vậy, từ bài học "Hàm Cá Mập" trước đây, trước khi ra quyết định một công trình trong khu vực Hồ Gươm, các nhà quản lý phải nhìn thấy tác động của nó đối với toàn bộ không gian.
Và có lẽ đây cũng là điều tôi muốn nhấn mạnh nhất từ câu chuyện của 40 năm trước: Tri thức quy hoạch chỉ thực sự có giá trị khi nó trở thành nguyên tắc của quyết định, chứ không chỉ nằm trong những bản nghiên cứu hay những bản kiến nghị.

PV: Trở lại bản kiến nghị, tại sao ông lại quyết định công khai tài liệu đặc biệt này ở thời điểm hiện tại?
TS Nguyễn Quang: Lý do cũng rất đơn giản. Tài liệu ấy không chỉ là kỷ niệm cá nhân mà là một phần ký ức về cách những trí thức Hà Nội đã suy nghĩ về thành phố của mình từ 40 năm trước.
Giờ đây, khi Hà Nội tiếp tục nghiên cứu, chỉnh trang và tổ chức lại khu vực Hồ Gươm chính là lúc thích hợp đưa tài liệu ấy trở lại với công chúng để bổ sung một tiếng nói từ lịch sử vào cuộc thảo luận hôm nay.
Tôi mong mọi người, nhất là những người đang tham gia quy hoạch, có thể nhìn Hồ Gươm bằng một suy nghĩ rộng hơn: "Chúng ta muốn để lại Hồ Gươm như thế nào cho những thế hệ mai sau?"
Bởi một công trình có thể xây lại, một quảng trường có thể chỉnh sửa, một con đường có thể thay đổi. Nhưng một khi đã làm mất đi tính độc đáo của một không gian lịch sử thì rất khó có thể phục hồi nguyên vẹn.
PV: Phương án quy hoạch không gian Hồ Hoàn Kiếm vừa qua nhận được rất nhiều quan tâm, góp ý của công chúng. Từng tham gia xây dựng bản kiến nghị 40 năm trước, ông kỳ vọng gì về sự tiếp thu của các đơn vị liên quan?
TS Nguyễn Quang: Sau 40 năm sau, hoàn cảnh đã khác rất nhiều. Hà Nội có điều kiện phát triển mạnh hơn, nhu cầu về hạ tầng, dịch vụ, du lịch và không gian công cộng cũng lớn hơn. Vì vậy, tôi càng không muốn nhìn vấn đề theo hướng bảo tồn là phải giữ nguyên tất cả.

Điều tôi kỳ vọng ở các đơn vị tư vấn và các cơ quan liên quan là hãy coi ý kiến đóng góp cho quy hoạch Hồ Gươm như một nguồn tri thức cho đồ án, chứ không chỉ là một thủ tục phải hoàn thành.
Một đồ án quy hoạch tốt không nhất thiết phải tiếp thu tất cả ý kiến. Nhưng mọi ý kiến có giá trị cần được lắng nghe, phân tích và giải trình rõ ràng. Đặc biệt với Hồ Gươm, quá trình này không nên chỉ dừng ở việc xem xét từng công trình hay từng hạng mục riêng lẻ.
Nếu làm được như vậy, việc lấy ý kiến cộng đồng sẽ không chỉ là "hỏi ý kiến", mà thực sự trở thành một phần của quá trình làm quy hoạch. Và tôi nghĩ đó cũng là cách chúng ta trân trọng những trí thức tiền bối đã lên tiếng về Hồ Gươm 40 năm trước.
Ở phần tiếp theo, TS. Nguyễn Quang sẽ đưa ra góc nhìn về một cuộc đối thoại trong không gian Hồ Gươm, cần những quyết định tổng thể, nhất quán để bảo tồn và phát huy không gian đặc biệt này của Thủ đô.