Việc xây dựng một hệ sinh thái chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch bệnh gắn với chuỗi giá trị khép kín được xem là giải pháp căn cơ để tăng năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm...
Thu hoạch trứng gà tại một trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP ở xã Thư Lâm. Ảnh: Đỗ Tâm
Chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất quy mô lớn
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam chuyển biến đáng kể từ mô hình nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang chăn nuôi tập trung, sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Quá trình này từng bước gắn với quy trình giết mổ, chế biến công nghiệp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm, giảm ô nhiễm môi trường.
Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Phạm Kim Đăng cho biết, trong quý I-2026, chăn nuôi lợn và gia cầm của cả nước tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực. Tổng đàn lợn ước tăng 2,9%, tổng đàn gia cầm tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt khoảng 1,44 triệu tấn, tăng 4,9%; sản lượng thịt gia cầm đạt khoảng 660,8 nghìn tấn, tăng 5,8%. Xu hướng tăng trưởng của chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục được duy trì ổn định trong những tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp nhiều khó khăn và có xu hướng giảm.
Dù đạt kết quả tích cực, ngành chăn nuôi vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đáng chú ý, việc triển khai chăn nuôi an toàn sinh học chưa đồng bộ, nhất là ở khu vực nông hộ và các trang trại quy mô nhỏ, nơi điều kiện đầu tư còn hạn chế. Nguy cơ tái bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm như: Bệnh dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng hay cúm gia cầm luôn hiện hữu. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ khiến việc áp dụng công nghệ hiện đại gặp nhiều khó khăn, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi trong nước...
Phó Chủ tịch Thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, hệ thống sản xuất chưa đồng bộ, đặc biệt là khâu giết mổ và chế biến còn yếu. Giết mổ tập trung và công nghiệp hiện chưa cạnh tranh được với giết mổ nhỏ lẻ. Điều này dẫn đến chênh lệch lớn giữa giá bán của người chăn nuôi và giá tới người tiêu dùng. Sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa xây dựng được thương hiệu mạnh để quảng bá rộng rãi...
Thực tế cho thấy, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là thức ăn chăn nuôi. Hiện nay, trong nước mới chỉ chủ động được khoảng 35% nguồn nguyên liệu, còn lại 65% phải nhập khẩu. Điều này khiến chi phí sản xuất luôn ở mức cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Không chỉ vậy, tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cùng chi phí cho phòng chống dịch bệnh ngày càng gia tăng cũng đang tạo thêm áp lực cho người chăn nuôi.
Do đó, các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, sử dụng hệ thống biogas, đệm lót sinh học, tái chế phụ phẩm nông nghiệp đang được khuyến khích nhân rộng, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tận dụng tối đa nguồn tài nguyên.
Thúc đẩy hình thành, phát triển chuỗi giá trị
Theo định hướng, đến năm 2030, ngành chăn nuôi đặt mục tiêu phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và kiểm soát tốt dịch bệnh, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường cho biết, đến năm 2030, Hà Nội phấn đấu đạt 80% tỷ lệ nội địa hóa hệ thống chuồng trại và trang thiết bị. Khoảng 80% trang trại quy mô lớn sẽ sử dụng chuồng trại hiện đại; 80% chăn nuôi lợn, gia cầm áp dụng mô hình chuồng kín; 80% cơ sở chăn nuôi trâu, bò sử dụng đệm lót sinh học.
Theo đó, thành phố cũng khuyến khích phát triển công nghiệp chuồng trại, xử lý chất thải và nhân rộng các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, qua đó, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chăn nuôi, hướng tới xuất khẩu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là tổ chức lại sản xuất và phát triển chuỗi giá trị. Đặc biệt, cần thúc đẩy chăn nuôi theo chuỗi khép kín, tăng cường liên kết giữa các khâu từ con giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và phân phối. Đây là yếu tố then chốt giúp kiểm soát chất lượng, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Cùng với đó, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển công nghệ sinh học trong chọn tạo giống, đầu tư hệ thống giết mổ tập trung, chế biến sâu... được xem là những giải pháp quan trọng để gia tăng giá trị cho sản phẩm chăn nuôi. Ngoài ra, việc quy hoạch hệ thống giết mổ tập trung thay thế dần cơ sở giết mổ nhỏ lẻ không bảo đảm tiêu chuẩn sẽ góp phần nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc...
Việc xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi xanh, hiện đại, an toàn dịch bệnh không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài của ngành Nông nghiệp. Khi các “mắt xích” trong chuỗi giá trị được liên kết chặt chẽ, ứng dụng công nghệ được đẩy mạnh, sản xuất được tổ chức theo hướng chuyên nghiệp, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và thị trường quốc tế.