Một khảo sát với 2.000 lao động tri thức tại Việt Nam cho thấy 89% người không xem kết quả AI là câu trả lời cuối cùng. Đáng chú ý hơn, những người thành thạo AI lại chủ động giữ một số công việc cho chính mình.
Người giỏi dùng AI lại biết lúc nào không nên dùng
Khi các công cụ AI tạo sinh đã quá phổ biến, một cách sử dụng rất tự nhiên hình thành: có việc thì hỏi AI. "Viết giúp tôi email này." "Tóm tắt tài liệu này." "Cho tôi 10 ý tưởng." "Dịch đoạn văn này." Cách dùng ấy không có gì sai. Nó giải quyết một vấn đề quá quen thuộc của người đi làm: hàng loạt việc nhỏ nhưng ngốn thời gian.
Nhưng một dữ liệu khảo sát về người lao động Việt Nam cho thấy một thay đổi đáng chú ý hơn đang diễn ra.
Work Trend Index 2026 của Microsoft được thực hiện dựa trên khảo sát 2.000 lao động tri thức tại Việt Nam, kết hợp phân tích hàng nghìn tỷ tín hiệu năng suất ẩn danh từ Microsoft 365. Kết quả cho thấy 89% người dùng AI được khảo sát tại Việt Nam nói rằng họ xem kết quả AI tạo ra là nền tảng để suy nghĩ sâu hơn chứ không phải câu trả lời cuối cùng.
Một con số khác: 76% người dùng AI được khảo sát tại Việt Nam cho biết đã tạo ra những sản phẩm hoặc kết quả công việc mà một năm trước họ chưa thể thực hiện được, vượt xa con số 58% trên phạm vi toàn cầu.
Kết quả khảo sát của Microsoft có một khái niệm "Frontier Professionals" - những người tiên phong về AI, sử dụng AI thành thạo nhất. Việt Nam hiện có 39% lực lượng lao động thuộc nhóm này, còn mức chung toàn cầu là 16%.
Cũng theo Microsoft, với riêng nhóm "Tiên phong về AI", 62% dành thời gian trước khi bắt đầu công việc để xác định phần nào nên do con người đảm nhiệm, phần nào phù hợp giao cho AI. Thậm chí, 57% nhóm này chủ động thực hiện một số công việc không sử dụng AI nhằm rèn luyện và nâng cao kỹ năng chuyên môn.


Một khảo sát độc lập của PwC cũng cho thấy AI đã đi khá sâu vào nhịp làm việc tại Việt Nam.
Trong hơn 1.000 người lao động Việt Nam tham gia Global Workforce Hopes and Fears Survey 2025, 38% cho biết sử dụng AI tạo sinh hàng ngày, hơn gấp đôi mức trung bình toàn cầu 14%.
Như vậy, điều đáng chú ý không còn đơn thuần là "người Việt có dùng AI hay không". Câu hỏi đang chuyển thành: "Họ giao phần nào trong công việc của mình cho AI?"


AI càng phát triển, kinh nghiệm càng "có giá"
Điều này đặc biệt đáng chú ý với người ở tuổi 40-50 đã làm nghề ít nhất 15, 20 năm.
Trong một thời gian dài, kinh nghiệm thường được thể hiện bằng khả năng tự mình xử lý công việc: đọc nhanh hơn người mới, biết viết một văn bản thế nào, biết tìm thông tin ở đâu, biết giải quyết một tình huống từng gặp nhiều lần.
AI đang lấy đi một phần lợi thế của việc thực hiện những công việc đó. Bởi vì một người mới cũng có thể yêu cầu AI tổng hợp 50 trang tài liệu trong vài phút. Một nhân viên ít kinh nghiệm cũng có thể tạo ra bản nháp tương đối chỉnh chu.
Nhưng, AI lại không thể hiểu được bối cảnh mà một người làm nghề lâu năm đã tích lũy: khách hàng này thực sự quan tâm điều gì, đội ngũ có làm nổi phương án trên giấy hay không, quyết định tương tự ba năm trước đã thất bại ở đâu, hay một đề xuất nghe rất hợp lý nhưng sẽ vướng điều gì khi triển khai.
AI có thể tạo ra 10 phương án, nhưng kinh nghiệm giúp nhận ra 9 phương án nào không sống được trong thực tế.
Có những việc cố tình không dùng AI lại là một kỹ năng.
Con số 57% Frontier Professionals chủ động làm một số công việc không dùng AI vì thế đặc biệt đáng suy nghĩ.
Nếu một người giao toàn bộ việc viết cho AI, khả năng tự viết có thể ít được luyện tập. Nếu mọi phép phân tích đều bắt đầu bằng kết luận của máy, con người cũng có nguy cơ chỉ còn kiểm tra một con đường suy nghĩ đã được AI dựng sẵn.
Vì vậy, trước một công việc, thay vì chỉ hỏi: "AI có làm được không?", có thể cần thêm một câu hỏi khác: "Việc này dù AI làm được, tôi có nên giao cho nó không?"
Những việc lặp lại, tổng hợp lượng thông tin lớn, tạo bản nháp hay đưa thêm phương án có thể là nơi AI tiết kiệm đáng kể công sức.
Ngược lại, quyết định cuối cùng, kiểm chứng thông tin quan trọng, những việc cần hiểu sâu bối cảnh hoặc kỹ năng cốt lõi mà bản thân không muốn mai một vẫn cần con người giữ vai trò chính. Với thông tin liên quan tới sức khỏe, pháp lý, tài chính hay dữ liệu mật của tổ chức, ranh giới này càng phải chặt chẽ hơn.
* Tham khảo số liệu từ Microsoft, PwC