Dự án thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 Northern Lights được tài trợ bởi Uỷ ban Châu Âu EC. Ảnh Northern Lights JV DA.
Trên thế giới, việc thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 (CCS) không phải câu chuyện mới. Theo báo cáo cập nhật cơ sở dữ liệu các dự án CCS của tổ chức Global CCS Institute, trong năm 2025, công suất thu giữ CO2 toàn cầu tăng 25% so với năm 2024, đạt 64 triệu tấn/năm. Hiện nay, có 77 dự án CCS đang vận hành thương mại, 47 dự án đang xây dựng và 610 dự án đang phát triển trên toàn cầu.
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA, để đạt phát thải ròng bằng 0, khối lượng khí CO2 được xử lý hàng năm cần tăng lên 7,6 tỉ tấn vào năm 2050 và 95% lượng CO2 được thu giữ này nên được chôn dưới lòng đất.
Tại phiên thảo luận tại hội trường về Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) mới đây, vấn đề thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 đã được đề cập. Theo Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh Hùng, Việt Nam nghiên cứu dùng các mỏ dầu khí cạn kiệt để lưu trữ CO2, trong đó, một số thử nghiệm đang được thực hiện tại một số mỏ ở khu vực Bắc Bộ.
Người đứng đầu ngành Công thương dẫn một nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam cho biết, quy mô thị trường CCS có thể đạt khoảng 40 tỉ USD.
Thuận lợi kép để “chôn” CO2
TS Phùng Quốc Huy, Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng châu Á - Thái Bình Dương (APERC) đã có nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này. Về tiềm năng thị trường CCS của Việt Nam, vị chuyên gia dẫn số liệu từ các bài báo khoa học quốc tế năm 2017 và 2020 cho biết, Việt Nam có khả năng lưu trữ khoảng 12 tỉ tấn CO2 trong các vỉa dầu đã cạn kiệt, các túi nước mặn, các vỉa than mỏng, sâu không thể khai thác.
Một con số tương tự được Tổ chức An ninh Kim loại và Năng lượng Nhật Bản đưa ra. Theo đó, các bồn trầm tích ngoài khơi Việt Nam có thể lưu trữ hơn 10 tỉ tấn CO2 với hai khu vực tiềm năng nhất là bồn Sông Hồng ở phía Bắc và bồn Cửu Long ở phía Nam.
Theo các nhà khoa học, Việt Nam có thể trở thành một trong những nước có tiềm năng lưu trữ CO2 lớn ở Đông Nam Á.
TS Phùng Quốc Huy, Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng châu Á - Thái Bình Dương (APERC).
Bản thân TS Phùng Quốc Huy cũng đã nghiên cứu về khả năng lưu trữ CO2 trong một số vỉa than vùng Quảng Ninh. Cụ thể, khả năng lưu trữ CO2 vùng này dao động từ 12 m3/tấn đến 22 m3/tấn.
Vậy nên, theo vị chuyên gia, Việt Nam không chỉ có lợi thế về tiềm năng lưu trữ mà còn có thể hình thành các khu vực lưu trữ CO2 tập trung hoặc theo cụm nhằm giảm tối đa chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng và vận chuyển.
“Ví dụ, đối với các nguồn phát thải CO2 lớn ở khu vực miền Nam, CO2 được thu giữ tại các nhà máy, vận chuyển và bơm xuống các vỉa dầu đã cạn kiệt, hoặc các túi nước mặn ngoài khơi.
Đối với các nguồn phát thải CO2 lớn ở miền Bắc, CO2 được thu giữ và vận chuyển và bơm xuống các vỉa than sâu, không thể khai thác tại vùng Quảng Ninh, Thái Nguyên”, TS Phùng Quốc Huy chỉ rõ.
Thách thức về chi phí
Dù tiềm năng rất khả quan, để hiện thực hoá việc thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 tại Việt Nam, rào cản đầu tiên là chi phí.
Theo nghiên cứu của Tập đoàn ING (Hà Lan), tổng chi phí thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 dao động từ 100 USD đến 350 USD/tấn, trong đó, thu giữ tốn từ 40 USD đến 120 USD/tấn, vận chuyển mất 10 USD đến 70 USD/tấn và lưu trữ tốn 10 USD – 100 USD/tấn.
Trong khi đó, nguồn thu từ bán tín chỉ carbon trên thị trường thí điểm tại Việt Nam là khoảng 120.000 đến 140.000 đồng/tấn. Giá mua trên thế giới dao động từ 5 USD đến hơn 100 USD/tấn tùy thuộc vào loại tín chỉ và nơi giao dịch.
Theo TS Phùng Quốc Huy, trên thế giới, các dự án thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 đang hoạt động hiện nay chủ yếu được triển khai ở các nước phát triển. Đây đều là những dự án nhận được hỗ trợ từ chính phủ với vốn đầu tư lên tới hàng chục tỉ USD. Soi chiếu với điều kiện hiện tại của Việt Nam, vị chuyên gia thẳng thắn, chi phí là một thách thức lớn.
“Từ năm 2029, khi Việt Nam vận hành thị trường carbon chính thức, mức giá carbon có thể sẽ tốt hơn. Cộng với các chính sách hỗ trợ từ chính phủ như miễn giảm thuế, trợ giá, đầu tư chung hạ tầng lưu trữ, cơ chế chia sẻ rủi ro pháp lý và kỹ thuật giữa nhà nước - doanh nghiệp. Khi đó, sẽ có thể khuyến khích khu vực tư nhân sẽ tham gia vào lĩnh vực này”, TS Phùng Quốc Huy nhận định.
Việt Nam cần làm gì?
Dù vậy, TS Phùng Quốc Huy nhấn mạnh, để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050, việc phát triển thị trường thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2 là rất cần thiết.
Thứ nhất, chúng ta nên tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ này tại một số vị trí lưu trữ CO2 khác nhau (bể chứa dầu khí đã cạn kiệt, vỉa than không thể khai thác, tầng nước mặn sâu…) và đánh giá khả năng lưu trữ và kiểm soát rò rỉ CO2 từ các khu vực lưu trữ.
Thứ hai, cần tận dụng nguồn lực hỗ trợ từ các nước phát triển cho vấn đề chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải. Bên cạnh đó, phối hợp với các tổ chức nước ngoài để tham quan học tập và chuyển giao công nghệ.
Thứ ba, xây dựng chính sách hỗ trợ triển khai các dự án CCS, dần hoàn thiện thị trường carbon và thuế carbon để tạo nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này.
“Sự hỗ trợ của Nhật Bản trong giai đoạn nghiên cứu áp dụng CCS tại Việt Nam hiện tại là một tín hiệu tích cực. Nhật Bản có nhu cầu cao về mua bán và trao đổi tín chỉ carbon thông qua các dự án hợp tác để chuyển về nước và nếu Việt Nam có những dự án CCS quy mô, họ sẽ sẵn sàng đầu tư trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Nhìn xa hơn, với tiềm năng lưu trữ CO2 lớn, Việt Nam có thể là địa điểm lưu trữ CO2 của các nước trong khu vực, trong đó có Nhật Bản”, TS Phùng Quốc Huy gợi ý thêm.