Lý do cần giảm thời giờ làm việc
Gửi kiến nghị tới Quốc hội, cử tri TP Đà Nẵng đề nghị nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật Lao động theo hướng giảm thời giờ làm việc tối đa của người lao động từ 48 giờ/tuần xuống còn 44 hoặc 40 giờ/tuần.
Theo cử tri, việc giảm thời giờ làm việc sẽ giúp người lao động có thêm thời gian nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, chăm lo gia đình, nâng cao đời sống tinh thần và chất lượng cuộc sống. Cử tri cho rằng đề xuất này cũng phù hợp với xu hướng tiến bộ về chính sách lao động và an sinh xã hội tại nhiều nước hiện nay.
Đề xuất giảm thời giờ làm việc xuống còn 44 hoặc 40 giờ/tuần.
Trả lời kiến nghị trên, Bộ Nội vụ cho biết Bộ luật Lao động hiện hành quy định thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ trong một ngày và không quá 48 giờ trong một tuần. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.
Bộ Nội vụ nhấn mạnh, điều chỉnh thời giờ làm việc bình thường là chính sách lớn, tác động trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức sản xuất, kinh doanh, thị trường lao động và năng suất lao động.
Chính sách này cũng có thể tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc điều chỉnh thời giờ làm việc cần được nghiên cứu, đánh giá toàn diện trên cơ sở thực tiễn.
Theo Bộ Nội vụ, trong bối cảnh năng suất lao động của Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực, việc giảm thời giờ làm việc bình thường khi năng suất lao động chưa được cải thiện tương ứng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, việc làm và thu nhập của người lao động.
Bên cạnh đó, yêu cầu phục hồi, phát triển kinh tế, thích ứng với những biến động của thị trường và mục tiêu phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới cũng đòi hỏi phải cân nhắc thận trọng khi điều chỉnh chính sách về thời giờ làm việc.
Theo đó, việc giảm thời giờ làm việc bình thường xuống dưới 48 giờ/tuần cần có lộ trình và cơ chế phù hợp, nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động. Chính sách này cũng cần tránh làm ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động hoặc làm gia tăng đáng kể chi phí lao động của doanh nghiệp.
Do vậy, Bộ Nội vụ cho rằng việc sửa đổi Bộ luật Lao động theo hướng bắt buộc giảm thời giờ làm việc bình thường từ 48 giờ/tuần xuống còn 44 hoặc 40 giờ/tuần trong giai đoạn hiện nay là chưa phù hợp.
Cần được đánh giá tổng thể
Liên quan đến nội dung này, trong quá trình góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Sở Nội vụ tỉnh Sơn La đề xuất quy định lộ trình giảm thời giờ làm việc bình thường của người lao động xuống còn 40-44 giờ/tuần.
Đề xuất nhằm thống nhất với thời giờ làm việc tại khu vực công. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, Bộ Nội vụ nêu rõ không tiếp thu kiến nghị này.
Các cặp đôi tranh thủ ghi lại những khoảnh khắc đẹp ở Hà Nội. (Ảnh: Tiền Phong)
Trước đó, tổ chức Công đoàn Việt Nam và một số chuyên gia cũng từng đưa ra đề xuất tương tự. Các ý kiến cho rằng, khi có sự cân bằng tốt hơn giữa công việc và cuộc sống, người lao động có thể làm việc hiệu quả hơn và gắn bó lâu dài hơn với doanh nghiệp.
Trao đổi về vấn đề này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn Hạ cho biết quy định thời giờ làm việc 48 giờ mỗi tuần đã được duy trì từ năm 1994 đến nay và chính sách này đã được cân nhắc qua nhiều lần sửa luật.
Ông Tạ Văn Hạ lưu ý, việc điều chỉnh thời giờ làm việc cần được đánh giá tổng thể, bảo đảm hài hòa giữa năng suất, thu nhập của người lao động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo đại biểu, trước khi thay đổi chính sách cần đánh giá tác động và lấy ý kiến trực tiếp của người lao động, doanh nghiệp, qua đó bảo đảm hài hòa lợi ích của hai bên.
Ông Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội), cũng lưu ý việc giảm giờ làm cần được xem xét thận trọng và lựa chọn thời điểm phù hợp.
Theo ông Lợi, việc giảm giờ làm nên được thực hiện theo lộ trình, có thể bắt đầu từ khoảng năm 2030, khi năng suất lao động tăng lên và các điều kiện về an toàn lao động được cải thiện.