Phiên tòa tranh chấp xác định cha cho con giữa ca sĩ Jack - Trịnh Trần Phương Tuấn và Trần Nguyễn Thiên An đã khép lại với phán quyết xác định nam ca sĩ là cha đẻ của bé gái. Tuy nhiên, bên cạnh việc xác lập quan hệ cha con, những chia sẻ của hai bên tại tòa về quá trình chăm sóc, thăm nom và trách nhiệm đối với con tiếp tục nhận được sự quan tâm.
Tại phiên tòa, Jack cho biết mong muốn được thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người cha, không có ý định giành quyền nuôi hay tách con khỏi mẹ. Trong khi đó, Thiên An trình bày về quãng thời gian cô trực tiếp chăm sóc con từ những năm đầu đời.
Từ những vấn đề được nêu tại phiên tòa, câu chuyện về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ khi không cùng trực tiếp nuôi dưỡng con cũng được đặt ra, đặc biệt là trách nhiệm chăm sóc và cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Thiên An tại phiên tòa sáng 22/9. Ảnh: Viết Thanh
Không trực tiếp nuôi con không đồng nghĩa hết trách nhiệm
Theo TS.LS Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp cho biết, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con là một nghĩa vụ pháp lý quan trọng, nhằm bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của người con khi chưa thể hoặc không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Đối với con chưa thành niên, cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng, trong đó trường hợp không sống chung với con thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ này.
Điều đáng lưu ý là ly hôn chỉ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, không làm chấm dứt quan hệ cha, mẹ và con. Vì vậy, việc Tòa án giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng không đồng nghĩa với việc người còn lại được chấm dứt trách nhiệm đối với con.
Cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trong những trường hợp nào?
Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình trong những trường hợp luật định, trong đó có người chưa thành niên và người đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.
Về nguyên tắc, Điều 69 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định cha, mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; cha và mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định rất rõ: Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên; con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Như vậy, có thể xác định hai nhóm con được pháp luật đặc biệt bảo vệ về nghĩa vụ cấp dưỡng: Thứ nhất, con chưa thành niên, tức là người chưa đủ 18 tuổi theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ hai, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Đối với nhóm thứ hai, việc người con đã đủ 18 tuổi không đồng nghĩa trong mọi trường hợp nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đương nhiên chấm dứt.
Nếu người con đã thành niên nhưng thực tế không có khả năng lao động và cũng không có tài sản để tự bảo đảm cuộc sống thì cha, mẹ vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 110, đây là điểm rất cần được hiểu đúng, bởi pháp luật không lấy riêng tiêu chí "đủ 18 tuổi" để giải quyết mọi trường hợp.

Ca sĩ Jack được tòa xác định là cha đẻ của con Thiên An. Ảnh: Viết Thanh
Mức cấp dưỡng không có một con số cố định
Một trong những vấn đề thường phát sinh khi cha mẹ không trực tiếp nuôi con là mức cấp dưỡng.
Theo phân tích trong tài liệu, pháp luật không quy định một mức tiền cấp dưỡng cố định áp dụng cho mọi trường hợp. Mức cấp dưỡng phụ thuộc vào nhu cầu thiết yếu của người con và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Các bên trước hết có thể tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng. Khi thỏa thuận, cần xem xét thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người con.
Trong trường hợp hai bên không thống nhất được, có thể đề nghị Tòa án giải quyết dựa trên các chứng cứ do đương sự cung cấp và những chứng cứ được thu thập trong quá trình giải quyết vụ việc.
Mức cấp dưỡng cũng không phải lúc nào cố định. Nếu điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng hoặc nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng thay đổi đáng kể, các bên có thể thỏa thuận lại; nếu không thống nhất được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Mức cấp dưỡng cho con được xác định thế nào?
Theo TS.LS Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp, pháp luật hiện hành không quy định một mức tiền cấp dưỡng cố định áp dụng cho mọi trường hợp. Mức cấp dưỡng cụ thể phụ thuộc vào nhu cầu thiết yếu của người con và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mức cấp dưỡng trước hết do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ thỏa thuận. Việc thỏa thuận phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng cũng như nhu cầu thiết yếu của người con.
Do điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình và khả năng kinh tế của mỗi người khác nhau nên mức cấp dưỡng cũng có thể khác nhau giữa từng trường hợp, từng thời điểm và từng địa phương. Vì vậy, không thể áp dụng một mức tiền chung cho tất cả các trường hợp.
Trường hợp cha, mẹ không tự thỏa thuận được về mức cấp dưỡng, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ do các bên cung cấp và tài liệu thu thập được để đánh giá toàn diện nhu cầu thực tế của người con, thu nhập và khả năng kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Theo chuyên gia, khi xác định mức cấp dưỡng cần cân đối cả hai yếu tố. Không thể chỉ căn cứ vào thu nhập của cha hoặc mẹ mà bỏ qua nhu cầu thiết yếu của con; ngược lại, cũng không thể chỉ dựa vào nhu cầu của con mà không xem xét khả năng kinh tế thực tế của người phải cấp dưỡng.
Đáng chú ý, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi khi có lý do chính đáng. Theo khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nếu điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng hoặc nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng thay đổi đáng kể, các bên có thể thỏa thuận điều chỉnh mức cấp dưỡng. Nếu không đạt được thỏa thuận, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

luật sư Đặng Văn Cường - Văn phòng Luật sư Chính Pháp thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
Có thể cấp dưỡng hàng tháng hoặc một lần
Pháp luật cho phép việc cấp dưỡng được thực hiện theo nhiều phương thức. Theo tài liệu, các bên có thể thực hiện cấp dưỡng hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Việc lựa chọn phương thức nào có thể được các bên thỏa thuận dựa trên điều kiện thực tế. Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng gặp khó khăn về kinh tế đến mức không thể thực hiện nghĩa vụ, các bên có thể thỏa thuận tạm ngừng cấp dưỡng; nếu không thống nhất được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nếu cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con nhưng không chịu cấp dưỡng thì phải làm gì?
Pháp luật đã có cơ chế để bảo vệ quyền lợi của người được cấp dưỡng. Theo Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ.
Ngoài ra, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội Liên hiệp phụ nữ cũng có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ trong những trường hợp luật định. Đây là cơ chế rất quan trọng, bởi nghĩa vụ cấp dưỡng không phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện của người phải cấp dưỡng.
Nếu đã có bản án hoặc quyết định của Tòa án xác định nghĩa vụ cấp dưỡng mà người có nghĩa vụ vẫn không thực hiện, người được cấp dưỡng hoặc người đại diện có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Không cấp dưỡng cho con sau ly hôn có thể bị xử phạt như thế nào?
Cần phân biệt rõ nghĩa vụ dân sự, xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự.Về xử phạt hành chính, Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn.
Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng theo quy định. Đối với trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án và người phải thi hành có điều kiện nhưng không thực hiện, còn có thể phát sinh trách nhiệm trong lĩnh vực thi hành án dân sự, tùy hành vi cụ thể và căn cứ xử lý. Nghị định 82/2020/NĐ-CP hiện quy định chế tài đối với một số hành vi không thực hiện hoặc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Trường hợp nào không cấp dưỡng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Không phải cứ chậm hoặc không cấp dưỡng là đương nhiên phạm tội hình sự. Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Theo đó, người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ, nhưng từ chối hoặc trốn tránh, dẫn đến người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khung hình phạt gồm cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Như vậy, để xem xét trách nhiệm hình sự cần chứng minh các dấu hiệu mà Điều 186 yêu cầu, trong đó có vấn đề rất quan trọng là người có nghĩa vụ phải có khả năng thực tế để cấp dưỡng.
Nếu một người thực sự không có thu nhập, không có tài sản hoặc đang rơi vào hoàn cảnh khách quan khiến họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì việc đánh giá trách nhiệm phải căn cứ vào những tình tiết cụ thể của vụ việc, không thể mặc nhiên đồng nhất với hành vi cố tình trốn tránh.
Căn cứ pháp lý sử dụng trong bài:
1. Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: khoản 24 Điều 3; Điều 69, Điều 71; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 107–119, đặc biệt Điều 110, 116, 117, 118, 119. Luật được ban hành ngày 19/6/2014 và có hiệu lực từ 1/1/2015.
2. Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Bộ luật Dân sự 2015, đặc biệt Điều 21 về người chưa thành niên.
4. Nghị định 144/2021/NĐ-CP, đặc biệt Điều 57, về xử phạt hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn: phạt 5–10 triệu đồng và buộc thực hiện nghĩa vụ.
5. Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, Điều 186 – Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
6. Nghị định 82/2020/NĐ-CP, trong trường hợp đã có bản án/quyết định của Tòa án mà người phải thi hành án không thực hiện hoặc trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo điều kiện luật định.