Giải quyết bài toán "làm sống" lại lò phản ứng hạt nhân
Năm 1986, sau thảm họa Chernobyl, nỗi lo về an toàn hạt nhân bao trùm thế giới. Ở Việt Nam, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt cũng đứng trước những cảnh báo nghiêm trọng. Một đoàn chuyên gia quốc tế nhận định lò có nguy cơ thủng đáy trong vòng hai năm.
Sức ép đè nặng lên những người đang chịu trách nhiệm vận hành công trình GS.TS Phạm Duy Hiển (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt), khi ấy gắn bó trực tiếp với lò phản ứng, thậm chí đã có lúc nghĩ đến việc xin nghỉ.
Rồi trong một cuộc gặp trước khi ông trở lại Đà Lạt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt cho ông một câu hỏi ngắn nhưng nặng nề: Có phải ông đang "đầu hàng"?
GS.TS Phạm Duy Hiển không nghỉ. Ông quay trở lại Đà Lạt và tiếp tục bảo vệ kết luận khoa học của mình bằng những tính toán, số liệu và kiểm chứng. VAST thuật lại rằng thực tế vận hành nhiều năm sau đó cho thấy lò vẫn hoạt động an toàn.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Viện Nghiên cứu hạt nhân, tháng 3/1984. Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân.
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được xây dựng trước năm 1975 theo công nghệ Mỹ, và ngừng hoạt động sau khi đất nước thống nhất. Sau đó, nhiệm vụ khôi phục công trình được đặt ra. GS.TS Phạm Duy Hiển được cử vào Đà Lạt khảo sát.
Trước mắt ông là một công trình có kiến trúc đặc biệt do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, nhưng phía sau vẻ ngoài ấy là một bài toán kỹ thuật phức tạp: làm thế nào để khôi phục một lò phản ứng được xây dựng theo công nghệ Mỹ bằng thiết bị và giải pháp kỹ thuật của Liên Xô.
Hai nền công nghệ không hoàn toàn giống nhau. Không có sẵn một phương án có thể lấy từ sách để áp dụng nguyên xi.
Bài toán đòi hỏi kiến thức nền tảng, khả năng phối hợp với các chuyên gia quốc tế và sự kiên trì của cả một tập thể. Theo VAST, trọng trách chủ trì được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho ông. Có thời điểm sau một trận bão, ông quyết định tạm dừng công trình nhiều ngày để làm sạch lò dù tiến độ đang rất khẩn trương.
Công việc khi ấy vì thế không chỉ có phương trình, thiết bị và thông số kỹ thuật. Với một công nghệ mà sai sót có thể để lại hậu quả lớn, khả năng đặt an toàn cao hơn sức ép tiến độ cũng là một phần của năng lực vận hành.
Khi khoa học phải đứng trước sức ép
Nếu quá trình khôi phục lò Đà Lạt là bài kiểm tra về năng lực chuyên môn, những năm sau đó lại trở thành phép thử về bản lĩnh khoa học.
Chernobyl xảy ra năm 1986. Những cảnh báo về lò Đà Lạt vì thế tạo ra sức ép rất lớn.
Nhưng GS.TS Phạm Duy Hiển không lựa chọn cách bảo vệ quan điểm bằng chức vụ hay uy tín cá nhân. Ông lựa chọn cách mà một nhà khoa học có thể làm: quay lại với dữ liệu.
Điện hạt nhân thuộc nhóm nguồn điện có phát thải khí nhà kính vòng đời rất thấp. UNECE ước tính 5,1–6,4 gCO₂e/kWh, trong khi điện khí ở mức 403–513 gCO₂e/kWh và điện than 751–1.095 gCO₂e/kWh trong các trường hợp được nghiên cứu.
Lò Đà Lạt là lò phản ứng nghiên cứu công suất 500 kW, chính thức vận hành từ tháng 3/1984, trung bình khoảng 1.200 giờ/năm. Đến cuối năm 2018, Viện Nghiên cứu hạt nhân ghi nhận khoảng 46.000 giờ vận hành. Câu chuyện của GS Phạm Duy Hiển cho thấy một điều căn bản với công nghệ hạt nhân: an toàn, bằng chứng khoa học và khả năng dừng lại trước rủi ro phải đứng trước sức ép tiến độ.
Những tranh luận về độ an toàn của lò phản ứng kéo dài. Ông tiếp tục công việc, tiếp tục kiểm tra và bảo vệ kết luận chuyên môn của mình.

GS.TS Phạm Duy Hiển trao đổi với chuyên gia Nga (Viện Nghiên cứu hạt nhân).
Về sau, thực tế vận hành của lò trở thành một phần quan trọng của câu chuyện. Báo cáo quốc gia của Việt Nam gửi IAEA cho biết lò Đà Lạt được nâng cấp từ lò TRIGA Mark II công suất 250 kW của Mỹ lên lò nghiên cứu 500 kW, chính thức vận hành từ tháng 3/1984 và được sử dụng cho nghiên cứu, đào tạo, phân tích kích hoạt neutron và sản xuất đồng vị phóng xạ.
Sau khi rời vị trí quản lý vào đầu thập niên 1990, GS.TS Phạm Duy Hiển tiếp tục tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, trong đó có công việc liên quan đến IAEA.
Từ một người trực tiếp tham gia khôi phục lò phản ứng, ông trở thành cầu nối đưa các chương trình hợp tác, tri thức và quan hệ khoa học quốc tế tiếp tục đến với Việt Nam.
Ông cũng tiếp tục viết và nghiên cứu về những vấn đề mình quan tâm: điện hạt nhân, môi trường, ô nhiễm không khí, lịch sử công nghệ và năng lực khoa học.
*Thông tin tư liệu: Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam