Mức tiền nhiều cha mẹ sẵn sàng chi nhất cho con học cấp 3

Mức chi phí này tương quan thế nào so với thu nhập bình quân của người lao động, và so với biểu phí của các trường tư thục, trường quốc tế?

Tiếp nối bài viết trước (phản ánh 4 câu hỏi về thang giá trị của phụ huynh có con thi vào cấp 3), bài viết dưới đây xoay quanh vấn đề khả năng chi trả học phí được nêu trong khảo sát của chúng tôi.

Câu hỏi được đưa ra là: mỗi tháng, gia đình sẵn sàng chi bao nhiêu tiền cho toàn bộ việc học cấp 3 của một người con, tính cả học phí, học thêm, luyện thi lẫn hoạt động ngoại khóa? Cần lưu ý, câu hỏi nêu ra mức sẵn sàng chi trả không đồng nghĩa với mức chi trả trong thực tế. Trong thực tế, có gia đình sẽ chi nhiều hơn, có gia đình sẽ chi ít hơn.

Hơn 1.200 lượt người trả lời đã đồng ý trả lời câu hỏi này.

41%
phụ huynh, nhóm đông nhất, sẵn sàng chi 1 đến 3 triệu đồng mỗi tháng
1/7
phụ huynh chi dưới 1 triệu đồng, gần như không lựa chọn trường tư
2/3
tiền chi cho giáo dục của một gia đình Việt Nam là học phí, trái tuyến, học thêm

Đa số phụ huynh sẵn sàng chi 1-3 triệu đồng mỗi tháng

Câu hỏi nêu ra sáu phương án, trải dài từ mức dưới 1 triệu đồng cho đến mức trên 20 triệu đồng một tháng. Kể từ năm học 2026-2027, theo chính sách mới, học sinh từ mầm non đến THPT công lập được miễn học phí, nhưng với hầu hết gia đình, vẫn còn nhiều khoản tiền cần chi xung quanh việc học.

Kết quả trả lời cho thấy, nhóm phụ huynh đông nhất là những người sẵn sàng chi từ 1 đến 3 triệu đồng. Cứ mỗi 4 trong 10 người trả lời lựa chọn đáp án này. Nhóm chi dưới 1 triệu chiếm khoảng 1 trong mỗi 7 người. Cộng hai nhóm, có đến 55% phụ huynh thể hiện ý kiến cho biết, mức chi lý tưởng của họ không thể nhiều hơn 3 triệu đồng/tháng/một người con học cấp 3.

Trong khi đó, nhóm các phụ huynh chọn sẵn sàng chi từ 3 đến 5 triệu đồng mỗi tháng cũng không ít, chiếm một phần tư số người trả lời. Đáng chú ý, nhóm chi từ 5 đến 10 triệu tuy đứng thứ tư về số lượng lựa chọn, nhưng vẫn nhiều hơn hẳn hai nhóm chi cao nhất cộng lại. Hai nhóm chi cao nhất này, sẵn sàng bỏ ra từ 10 triệu trở lên, cộng lại tròn 7 phần trăm.

Mức sẵn sàng chi hàng tháng cho một người con học cấp 3

Tính cả học phí, học thêm, luyện thi và ngoại khóa · Soha Insight · Khảo sát 30/5 đến 20/6/2026

Soha Insight

Đến đây, câu hỏi đặt ra là: Vậy chi phí cho học tập chủ yếu là những khoản nào, các mức sẵn sàng chi trả này là nhiều hay ít nếu tham chiếu với thu nhập bình quân của người lao động, và so với thế giới thì các gia đình Việt Nam chi nhiều hay ít?

Ba khoản chi giáo dục chủ yếu của một gia đình

Theo dữ liệu Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam 2024 (VHLSS) của Cục Thống kê, trong cơ cấu chi phí giáo dục của một gia đình tại Việt Nam, học phí và chi phí học trái tuyến (bao gồm chi phí đi lại, bán trú...) chiếm hơn 4 trong mỗi 10 đồng. Học thêm chiếm khoảng một phần năm. Cộng lại, gần hai phần ba tiền học của một gia đình nằm ở ba khoản này.

Cơ cấu chi tiêu giáo dục của một hộ gia đình Việt Nam

Cục Thống kê · Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS) 2024

Soha Insight

Cũng theo Cục Thống kê, chi giáo dục bình quân cho một người đi học đã tăng gần gấp đôi trong mười năm qua. Mức chi gần như đi ngang trong giai đoạn trước và ngay sau dịch Covid-19 (2018-2022), rồi bật mạnh. Từ 2022 đến 2024 đã tăng thêm hơn 30%. Quy ra tháng, năm 2024 một người đang đi học tiêu tốn của gia đình gần 800 nghìn đồng mỗi tháng (tính trung bình cho mọi cấp học từ mầm non đến đại học).

Mức này thấp hơn nhiều khi các phụ huynh có con học cấp 3 trong khảo sát đa số là chi từ 1 triệu đồng trở lên, gợi ý rằng đây là giai đoạn các chi phí học thêm, luyện thi để chuẩn bị cho giai đoạn đại học sau này sẽ vượt trội mọi khoảng thời gian trước đó.

Chi giáo dục bình quân một người đi học mỗi năm, 2014 đến 2024

Cục Thống kê · Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS), đơn vị nghìn đồng

Soha Insight

14%phụ huynh trong khảo sát của Soha Insight cho biết sẵn sàng chi dưới 1 triệu đồng mỗi tháng, một mức khá gần với chi tiêu giáo dục bình quân toàn quốc cho một người đi học tính chung cho mọi cấp.

Báo cáo thường niên Education Finance Watch (EFW) của Ngân hàng Thế giới cung cấp một cái nhìn rộng hơn, trong đó chỉ ra cơ cấu chi cho giáo dục của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ với hai thành tố chính: hộ gia đình tự chi, và đầu tư của nhà nước.

Theo EFW 2024, Việt Nam khi đó nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. World Bank ước tính nhóm này mỗi gia đình chi khoảng 309 USD một năm cho giáo dục (tương đương khoảng hơn 7 triệu VNĐ thời điểm báo cáo của EFW 2024). Cũng nhóm này, cứ mỗi 10 đồng chi cho giáo dục thì các gia đình chi khoảng gần 4 đồng, còn lại là nhà nước chi.

Tỷ trọng hộ gia đình và nhà nước trong tổng chi giáo dục, theo nhóm thu nhập quốc gia

Ngân hàng Thế giới · Education Finance Watch 2023, 2024

Soha Insight

Ghi chú: Tại thời điểm EFW 2024 xuất bản, Việt Nam thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp. Một vài nhóm quốc gia, biểu đồ không thể hiện những khoản chi phí khác (ví dụ: nguồn vốn ODA). Từ 1/7/2026, Ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam sang nhóm thu nhập trung bình cao, nên các bản cập nhật EFW sau này Việt Nam sẽ đổi nhóm.

Mức sẵn sàng chi cho giáo dục nằm ở đâu so với thu nhập trung bình

Ở góc độ tỷ lệ chi phí cho giáo dục tính trên thu nhập bình quân của người lao động, khoản tiền ba triệu đồng mỗi tháng là con số rất khác nhau giữa một gia đình lao động phổ thông và một gia đình hai thu nhập chuyên môn cao. Hãy lấy chỉ số tại Hà Nội, nơi có thu nhập bình quân cao hàng đầu cả nước, làm ví dụ.

Chỉ sốMứcNguồn
Thu nhập bình quân đầu người Hà Nội (gồm cả người không đi làm)≈ 6,86 triệu đồng/thángVHLSS 2024
Thu nhập bình quân lao động đang có việc làm tại Hà Nội≈ 12,3 triệu đồng/thángCục Thống kê, quý 4/2025
Mức sống tối thiểu khu vực thành thị≈ 2,3 triệu đồng/thángCục Thống kê 2024

Nếu một người lao động chính (bố hoặc mẹ) dành khoảng 10 đến 15% thu nhập của mình cho việc học của một người con ở cấp 3, thì với mức thu nhập bình quân 12,3 triệu đồng, ngưỡng chi trả thực rơi vào khoảng 1,2 đến 1,8 triệu đồng mỗi tháng. Khoảng chi thực tế này (số liệu Cục Thống kê) khá sát với khoảng lựa chọn trong khảo sát của Soha Insight, nơi đa số người trả lời rằng sẵn sàng chi 1-3 triệu đồng/tháng cho mỗi người con học cấp 3.

Một gia đình có hai người đi làm, với tổng thu nhập bình quân nhân đôi (khoảng 24-25 triệu đồng/tháng), giả sử có một người con học cấp ba và cũng dành khoảng 10 đến 15% thu nhập cho giáo dục, thì khoảng chi phí cũng khá tương ứng với nhóm lựa chọn của khảo sát Soha Insight, ở khoảng 3-5 triệu đồng/tháng.

Đến đây xin nhắc lại là khảo sát Soha Insight đề ra mức sẵn sàng chi trả - tức là mức tương đối "lý tưởng", là "kỳ vọng" mà người làm khảo sát lựa chọn. Còn trong thực tế, nếu gia đình có nhiều hơn một người con đi học, cũng có thể gia đình đó đã/sẽ phải chi trả nhiều hơn lựa chọn thể hiện ở khảo sát này.

Mức tiền nào thì vào được trường tư, trường quốc tế?

Tiếp tục đối chiếu 6 lựa chọn sẵn sàng chi trả của khảo sát Soha Insight với bản đồ phân khúc học phí tại các trường ở Hà Nội. Điều thú vị là mỗi ngưỡng sẵn sàng chi gần như tương ứng với một loại hình trường mà một gia đình đó có thể tiếp cận.

Cụ thể, ngoài trường công (đã miễn học phí), ở phân khúc tư thục "rẻ" nhất, trường vẫn dạy đúng chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo như trường công, khác biệt chủ yếu nằm ở sĩ số nhỏ hơn, cơ sở vật chất đầu tư nhiều hơn, và thường có thể có thêm giờ học tiếng Anh và các kỹ năng mềm. Học phí nhóm này vào khoảng từ 2 đến 4 triệu đồng/tháng (chưa bao gồm các khoản khác).

Cũng trường tư thục nhưng có yếu tố quốc tế, trường bắt đầu dạy song song một chương trình tiếng Anh tăng cường hoặc chương trình song ngữ bên cạnh chương trình chính, có một phần giáo viên bản ngữ đứng lớp, mức học phí tăng mạnh, vào khoảng 4 đến 18 triệu đồng/tháng.

Còn ở hai phân khúc học phí cao nhất, khác biệt không còn là mức độ mà là bản chất: trường dạy hẳn một chương trình quốc tế như IB hoặc chương trình Anh, Mỹ, phần lớn giáo viên là người nước ngoài, và mục tiêu ngay từ đầu là đưa học sinh vào đại học ở nước ngoài, không xét tốt nghiệp THPT hay tuyển sinh đại học trong nước.

Loại hình trườngHọc phí/thángTổng chi ước tính/thángTương ứng nhóm khảo sát
Công lập (miễn học phí)0 đồng0,5 đến 1,5 triệuDưới 1 triệu & 1-3 triệu
Tư thục phổ thông cơ bản2 đến 4 triệu3 đến 6 triệu3-5 triệu
Tư thục có yếu tố quốc tế, song ngữ tăng cường4 đến 18 triệu5 đến 20 triệu5-10 & 10-20 triệu
Song ngữ học phí cao22 đến 60 triệu25 đến 65 triệuTrên 20 triệu
Quốc tế vốn nước ngoài60 đến 90 triệu65 đến 95 triệuTrên 20 triệu

Ghi chú: mức học phí là khoảng tham khảo theo phân khúc, tổng hợp từ thông tin tuyển sinh công khai và báo chí tính đến giữa năm 2026, quy đổi theo 10 tháng học mỗi năm với nhóm tính học phí theo năm; không gắn với một trường cụ thể. Còn cột "tổng chi ước tính" đã gồm học thêm và phụ phí thông thường.

Bảng này phần nào lý giải vì sao chỉ khoảng 7% người tham gia khảo sát trả lời sẵn sàng chi trên 10 triệu đồng mỗi tháng. Để tới phân khúc này, ngay cả một gia đình hai nguồn thu nhập ở mức khá có thể cũng phải dành một tỷ trọng vượt xa ngưỡng 15 đến 20% thu nhập, chỉ để lo cho mỗi một người con.

Phương pháp khảo sát +

Khảo sát trực tuyến, ẩn danh, được thực hiện từ 30/5 đến 20/6/2026, theo phương pháp thuận tiện và phi xác suất, thu về 4.471 lượt tham gia. Người tham gia tự nguyện, không kiểm soát cơ cấu theo tuổi, giới tính, vùng miền hay trình độ học vấn.

Câu hỏi về mức chi hàng tháng là câu hỏi tự nguyện cuối cùng, hỏi về mức chi cho một người con học cấp 3, thu được 1.406 lượt trả lời. Trong đó, 148 người chọn phương án không muốn chia sẻ con số cụ thể; 1.258 người còn lại cho biết một mức chi rõ ràng, và đây là nhóm được dùng để tính toán mọi tỷ lệ trong bài viết.

Đây là khảo sát khám phá, không đại diện thống kê cho toàn bộ phụ huynh có con học cấp 3 tại Việt Nam, và mẫu nghiêng nhiều về khu vực đô thị. Mọi tỷ lệ phản ánh ý kiến của những người tham gia, không khẳng định quan hệ nhân quả.

Số liệu đối chiếu bên ngoài lấy từ Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam (VHLSS) 2024 của Cục Thống kê, và báo cáo Education Finance Watch 2023, 2024 của Ngân hàng Thế giới. Các mức học phí trường tư và trường quốc tế trong bài là khoảng tham khảo theo phân khúc thị trường, tổng hợp từ nguồn công khai, không đại diện cho một trường cụ thể.

Thực hiện: Trương Lương và cộng sự

Nguồn: Nhịp Sống Thị Trường