Loài cây trồng một lần, thu cả đời: Ít vốn, ít công chăm sóc, mỗi tháng có chục triệu đồng

Minh Khang (t/h) |

Từng mọc hoang trên triền đồi, ven suối, tre mét nay đã trở thành "cây sinh kế" của nhiều hộ dân vùng trung du, miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.

Tre mét là tên gọi dân gian của một số loài tre thân thẳng, đốt dài, kích thước lớn, được trồng và khai thác phổ biến ở các tỉnh như: Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Lào Cai và một số địa phương Tây Nguyên. Trong đời sống truyền thống, tre mét không chỉ là vật liệu xây dựng quen thuộc mà còn gắn bó mật thiết với sinh kế và văn hóa làng quê.

Về mặt sinh học, tre mét thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), phân họ Tre (Bambusoideae). Cây mọc thành bụi, thân ống rỗng, chiều cao trung bình từ 8–15m, đường kính thân đạt 6–12cm tùy điều kiện sinh trưởng. Khi còn non, thân tre có màu xanh đậm, đến lúc già chuyển dần sang vàng nhạt.

Ưu điểm lớn nhất của tre mét là tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm. Cây chịu hạn, chịu úng ở mức tương đối, ít sâu bệnh. Hệ rễ chùm phát triển mạnh giúp giữ đất, chống xói mòn, đặc biệt phù hợp trồng ở các vùng đồi dốc, ven suối, bãi bồi.

Tre mét ưa đất tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn, nhưng cũng có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau. Sau khoảng 3–4 năm trồng, cây bắt đầu cho khai thác. Mỗi bụi tre có thể thu hoạch quanh năm, trong đó mùa khô được xem là thời điểm chặt tre tốt nhất vì thân chắc, ít sâu mọt.

 - Ảnh 1.

Tre mét tạo ra thu nhập bền vững cho người dân (ảnh PNVN).

"Cây đa năng" của làng quê

Trong đời sống nông thôn, tre mét được xem là loại cây "đa năng". Thân tre được dùng làm cột nhà, giàn giáo, hàng rào, cầu tạm, sào phơi, cán cuốc, cán xẻng. Trong thủ công mỹ nghệ, tre mét là nguyên liệu để đan lát rổ, rá, nong, nia, giỏ, đồ gia dụng và đồ trang trí thân thiện với môi trường.

Trong sản xuất nông nghiệp, tre mét được dùng làm trụ chống cho cây dưa, đậu, hồ tiêu hoặc làm giàn leo. Tre già còn được tận dụng làm củi đun hoặc than tre, gần như không bỏ phí bộ phận nào của cây.

Ở nhiều địa phương miền núi, tre mét đang trở thành nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Ngoài việc bán cây tre nguyên liệu cho thương lái, một số hộ còn kết hợp trồng tre với du lịch sinh thái, trải nghiệm làng nghề, góp phần nâng cao giá trị kinh tế trên cùng đơn vị diện tích đất.

Trên Báo Phụ nữ Việt Nam, bà Lô Thị Hằng (57 tuổi, trú xã Tam Quang, huyện Tương Dương) cho biết, trồng tre mét có nhiều ưu thế hơn so với các loại cây lấy gỗ như keo, tràm. "Tre mét phát triển nhanh, ít sâu bệnh, chỉ trồng một lần rồi khai thác hàng chục năm, hầu như không phải chăm sóc", bà Hằng nói.

Với gần 3ha tre mét, mỗi năm vợ chồng bà Hằng thu về khoảng 30–35 triệu đồng. "Cây tre để càng lâu, thân càng lớn thì giá bán càng cao, tôi coi như của để dành. Khi con đang học đại học cần tiền, tôi chỉ cần chặt khoảng 100–120 cây là có tiền gửi cho con", bà Hằng chia sẻ.

Cùng ở xã Tam Quang, bà Lương Thị Thuận (65 tuổi) cho biết tre mét gần như không tốn công chăm sóc nhưng vẫn cho thu hoạch đều đặn. Khó khăn lớn nhất là khâu vận chuyển từ rừng về điểm tập kết. "Năm nay giá tre khá cao. Nếu bán cho thương lái làm vật liệu xây dựng thì giá từ 25.000–35.000 đồng/cây tùy loại; còn bán cho nhà máy giấy thì khoảng 10.000–12.000 đồng/kg", bà Thuận cho hay.

Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, tre mét còn có giá trị lớn về môi trường và văn hóa. Những lũy tre xanh góp phần giữ đất, chống sạt lở, cải thiện cảnh quan sinh thái. Hình ảnh cây tre từ lâu đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam, gắn với đời sống, phong tục và ký ức của nhiều thế hệ.

Trong bối cảnh phát triển bền vững và xu hướng sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, tre mét đang được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên tái tạo giàu tiềm năng, mở ra hướng đi mới cho kinh tế nông thôn miền núi.

Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Báo lỗi cho Soha

*Vui lòng nhập đủ thông tin email hoặc số điện thoại