Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt

Trần Đình Ba |

Dân ta đã bị cực khổ về chính sách tàn bạo của người Minh lâu năm, nên phần nhiều kéo nhau đến xin Hoàng đế đánh gấp và giết cho bằng hết để hả giận. Ngài phán: "Hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn...".

Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc

Đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh thành một nét đẹp văn hóa qua hàng nghìn năm lịch sử. Lời dặn của Bác "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" và "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", hay những tư tưởng trong "Di chúc", chính là lời nhắc vô cùng sâu sắc về đạo lý ấy.

Mà đã là đạo lý thì ở thời đại nào, thế hệ nào cũng luôn đúng, bao gồm cả "thời đại 4.0" với "thế hệ Gen Z", hay cho đến mãi về sau.

Đó là lý do chúng tôi mở tuyến bài "Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc". Từng bài trong tuyến sẽ như một nén tâm hương nhắc mỗi người hãy nhớ đến anh linh của các vị vua hiền, các danh tướng tài ba, các danh nhân khoa bảng, trạng nguyên đầu triều… cho đến các dũng sĩ, liệt sĩ vô danh đã nằm xuống để góp xây nên nền văn hiến hàng nghìn năm dựng nước - giữ nước.

Chúng tôi cũng xin mời quý độc giả khi đọc những bài này hãy lắng lại, để bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn của mình đối với các Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc - để chúng ta được tròn đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" như lời Bác căn dặn.

* Đọc tất cả các bài viết Hồn thiêng sông núi, Hồn thiêng dân tộc tại đây.

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 2.

Trong Đại Việt thông sử, đoạn cuối viết về vua Lê Thái Tổ, có đôi dòng "Tháng 8 nhuận, có sao Chổi xuất hiện ở phương Tây. Ngày 22, vua thăng hà ở tẩm điện, hưởng thọ 49 tuổi ". Năm ấy, nhằm năm Quý Sửu (1433). Nhân ngày mất của vị vua khai triều Hậu Lê, chúng tôi viết đôi nét về nghiệp dựng nước, lên ngôi của ông.

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 3.

Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy vi, vận mạt. Hồ Quý Ly phế cháu ngoại lập ra nhà Hồ (1400 - 1407). Nước ta lúc này, nhân tâm không tụ, lòng người ly tán, thế nước ngày càng yếu. Trong khi đó ở phương Bắc, nhà Minh ngày càng cường thịnh, họa xâm lăng vì thế cận kề…

Tháng 9 năm Bính Tuất (1406), nhà Minh đem quân sang đánh nhà Hồ. Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), nước ta mất về tay nhà Minh. Một thời kỳ đen tối trong lịch sử dân tộc bắt đầu: Kỷ thuộc Minh.

Trong kỷ thuộc Minh, nhân dân ta vẫn không ngừng nổi dậy chống Minh với những tên tuổi của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, phong trào nghĩa binh áo đỏ… nhưng tất thảy đều thất bại. Nhưng ở đất Ái châu (Thanh Hóa), khởi nghĩa Lam Sơn chuẩn bị được thắp lên bằng mồi lửa ban đầu: Hội thề Lũng Nhai.

Đại Việt thông sử cho biết vào tháng 2 năm Bính Thân (1416), tại Lũng Nhai thuộc miền Tây Thanh Hóa, Lê Lợi cùng những người đồng chí hướng với mình tiến hành một hội thề, được gọi là hội thề Lũng Nhau để "nhóm lửa" cho khởi nghĩa Lam Sơn. Đây là lúc cánh cửa độc lập, tự do của dân tộc có người cầm mở, như Thiên nam minh giám có thi tán:

Nơi Lam Sơn có điềm hạc đến,
Trên Cảnh tinh sáng hiện tồn cung.
Tượng trời vận mở hanh thông,
Nước trong có thánh màn trong có hiền.

Lê Hoàng cất ba nghìn hùm sói,

Gối bác trời khua đuổi giặc Minh.

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 4.

19 anh hùng uống rượu thề tại Hội thề Lũng Nhai.

Hội thề Lũng Nhai được tiến hành mục đích là tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em, nguyện hợp sức chuẩn bị phát động khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Minh. Hội thề đặt cơ sở cho hạt nhân lãnh đạo khởi nghĩa về sau. 

Theo gia phả một số dòng họ còn lưu giữ được thì tham gia hội thề có 19 người, từ khắp nơi tụ họp về Lũng Nhai nguyện cùng đem tính mạng, tâm sức giành độc lập, tự do cho dân tộc: "Tuy họ hàng, quê quán khác nhau, nhưng kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành. Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình như cùng chung một họ"… "19 người chung sức đồng lòng, giữ gìn đất nước làm cho xóm làng được ăn ở yên lành. Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời thề son sắt", lời Lam Sơn thực lục cho hay.

Chính từ hội thề Lũng Nhai, hạt nhân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tương lai đã được hình thành. Từ đây, anh hùng hào kiệt khắp nơi cùng về tụ nghĩa dưới cờ Lê Lợi. Hai năm sau đó, mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi tự xưng Bình Định vương, dựng cờ khởi nghĩa chống Minh, khởi nghĩa Lam Sơn từ miền Tây Thanh Hóa chính thức bắt đầu hòng đưa nước nhà ra khỏi ách đô hộ.

Nhớ về sự kiện ấy, đời sau, trong Việt Nam lược sử ca có đôi dòng:

Nơi Lam Sơn mười năm kháng chiến (1418-1427)
Một chồi Lê, khi biến khi còn…
Cơ mưu Nguyễn Trải (Trãi) bảo tồn,
Anh hùng Lê Lợi rửa hờn non sông.

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 5.

Khởi nghĩa Lam Sơn trải qua thời gian đầu khó khăn rồi từng bước phát triển, mở rộng ra cả nước sau cuộc tiến quân vào Nghệ An năm Giáp Thìn (1424). Đến tháng 8 năm Bính Ngọ (1426), nghĩa quân Lam Sơn tiến công ra Bắc, làm nên chiến thắng Tốt Động - Chúc Động (hay Ninh Kiều) vang dội mà Bình Ngô đại cáo có ghi là: "Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm. Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm".

Thành Đông Quan bị nghĩa quân vây hãm, đầu năm Đinh Mùi (1427), viện binh nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng và Kiềm Quốc công Mộc Thạnh chỉ huy chia làm hai cánh sang nước ta. Chỉ trong một thời gian ngắn, với những chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang, 10 vạn viện binh của Liễu Thăng bị tiêu diệt, 5 vạn viện binh của Mộc Thanh tan tác. Kế hoạch "đánh thành, diệt viện" đã định đoạt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đập tan cố gắng lớn cuối cùng của quân Minh, buộc tướng Minh là Vương Thông ở thành Đông Quan phải xin cầu hòa để kết thúc chiến tranh.

Theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn: "Vương Thông và Sơn Thọ bị bao vây khốn đốn, lại xin giảng hòa. Quốc dân ta đã bị cực khổ về chính sách tàn bạo của người Minh lâu năm, nên phần nhiều kéo nhau đến xin Hoàng đế đánh gấp và giết cho bằng hết để hả giận. Ngài phán rằng: "Việc dụng binh, lấy sự toàn quân (không chết một mạng nào) là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua nhà Minh, trả lại đất nước ta, không còn xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn".

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 7.

Hội thề Đông Quan kết thúc chiến tranh

Cuối tháng 11 năm Đinh Mùi (1427) theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục "hội thề ở phía nam thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp thì Thông rút hết quân về nước". 

Hội thề Đông Quan, dù không cần tốn thêm quân, nhọc thêm sức để diệt địch, nhưng: "Cuộc hội minh này là một chiến thắng lịch sử vô cùng vẻ vang của Việt Nam, mà cũng là một lối "đầu hàng không điều kiện" vô cùng nhục nhã của quân Minh xâm lược. Vì rằng, theo lối chiến tranh thời xưa, khi giao chiến, một bên cố giữ thành, một bên hạ được thành, buộc chủ tướng đối phương phải ra hội thề ngay ở bên thành mà mình đã cố thủ, đó là một điều rất sỉ nhục theo quan niệm của các danh tướng xưa, nhất là những tướng ở thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Cho nên đối với những cuộc hội minh ngay ở bên thành sau khi hai bên đã giao chiến, thời Xuân Thu cho là một việc rất đáng hổ thẹn" - Lời minh trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã nhận định như thế.

Sang tháng Chạp, giặc Minh lũ lượt quân tướng rút binh. Lời kể trong Đại Việt thông sử cho biết: "Lúc ấy, các tướng sĩ và nhân dân ta, đều thâm thù sự tàn bạo của người Minh, nên đều mật khuyên Hoàng đế nhân dịp giết chết cả đi. Nhưng ngài dụ rằng: "Việc phục thù trả oán, là tình thường của mọi người, nhưng không ưa giết người, là bản tâm của người nhân. Huống chi người ta đã hàng, mà mình lại giết chết, thì còn gì bất tường hơn nữa. Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ hàng mãi tới đời sau, chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người, để dứt mối chiến tranh tới muôn thuở, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền tới ngàn thu, há chẳng đẹp lắm ru?". Các bầy tôi đều bái phục độ lượng khoan hồng của Hoàng đế". 

Mở đầu công cuộc nhóm lửa khởi nghĩa Lam Sơn bằng hội thề Lũng Nhai, cuộc khởi nghĩa cứu nước của Lê Lợi cũng kết thúc bằng hội thề: Hội thề Đông Quan. Đất nước từ đây có lại nền độc lập, tự chủ, như lời văn thần Nguyễn Trãi nhận định trong Bình Ngô đại cáo: "Xã tắc từ đây vững bền. Giang sơn từ đây đổi mới. Càn khôn bĩ rồi lại thái. Nhật nguyệt hối rồi lại minh". Cũng qua hội thề, đã chứng tỏ tinh thần chuộng hòa bình của dân tộc ta, sẵn sàng tha tội, mở lòng cho kẻ thù cướp nước.

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 8.

Đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân khắp nơi nô nức với vận hội mới. Bình Định vương Lê Lợi, vị anh hùng chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn quyết định lên ngôi vua, lập nên triều đại mới trị vì quốc gia.

Đầu năm Mậu Thân (1428), theo lời Đại Việt sử ký tiền biên: "Mùa xuân, tháng giêng, quân Minh đã về nước, vua bèn thâu tóm cả nước, lấy năm này làm năm đại định". Ngài lại tiến hành "Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc".

Trước đó, Lê Lợi sau hội thề Đông Quan, từ dinh Bồ Đề tiến vào thành Đông Quan. Bầy tôi dâng biểu khuyên mời lên ngôi Hoàng đế cho vị hiệu được chính thức. Theo lẽ trời, thuận lòng người, Lê Lợi ban sắc dụ rằng: "Các vua Vũ, Thang, Văn, Vũ ngày xưa công đức lớn là thế, vậy mà chỉ xưng là vương thôi, huống chi trẫm nay, công đức nhỏ mọn mong manh, dám đâu nói đến Hoàng đế làm một tôn hiệu to tát?".

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 9.

Lê Lợi lên ngôi hoàng đế

Rồi, đúng ngày rằm tháng 4 ấy, nhà vua lên ngôi ở điện Kính Thiên, xưng là Thuận Thiên thừa vận duệ văn anh vũ đại vương, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, quốc hiệu là Đại Việt, lại đóng đô ở Đông Kinh (tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh).

Từ đây, một triều đại mới được mở ra: Nhà Hậu Lê. Với công khai mở triều đại của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), nhà Hậu Lê (gồm giai đoạn Lê sơ và Lê Trung hưng (hay Lê mạt) trở thành triều đại thịnh trị nhất và về danh nghĩa chính thống, nhà Hậu Lê là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử nước ta với 355 năm chia làm hai thời kỳ: Lê sơ 99 năm (1428 - 1527) và Lê Trung hưng 256 năm (1533 - 1789).

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 10.

Viết về tiểu sử của vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi (1385-1433), ta xem trong Đại Việt thông sử, được Lê Quý Đôn ghi lại chi tiết và toàn diện. Theo đó Lê Thái Tổ "Họ Lê, tên huý là Lợi, người làng Lam Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoa", đất ấy nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. 

Miêu tả về tính tình, hình dung của vua, được Quế Đường viết chi tiết: "Khi lớn lên, thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ; mắt sáng mồm rộng; sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên; bả vai bên tả có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ; tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường".

Vốn là người có chí lớn, nên khi nước mất nhà tan, Lê Lợi đã "ngầm có chí khôi phục non sông, nên hạ mình tôn người hiền, bỏ tiền của ra nuôi binh sĩ, chiêu nạp những người mắc lỗi trốn tránh và chống đối, được nhiều người quy phục". Và như sau này ta biết, trải qua mười năm trường kỳ, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo thành công, để rồi nước thái bình, độc lập, mà cơ nghiệp nhà Hậu Lê cũng được mở ra.

Viết về sự nghiệp làm vua của Lê Thái Tổ, trong Đại Nam quốc sử diễn ca đúc kết như sau:

Thuận Thiên niên hiệu cải đề,

Non sông mới thuộc về Lê từ rày.

Quan danh, quân hiệu mới thay,
Bản đồ đổi lại huyện này, phủ kia.
Dựng nhà học, mở khoa thi,
Triều nghi, quốc luật một kỳ giảng tu.
Mười năm khai sáng cơ đồ,
Sáu năm bình trị qui mô cũng tường.

Khi đề cập về vị vua lập nên triều đại nhà Lê, vua Lê Thánh Tông trong bài chiếu của mình đánh giá cao công nghiệp khởi tổ xây nền của ông cha khi viết: "Đức Thái tổ Cao hoàng đế triều ta, dẹp yên loạn lạc, gây dựng nước nhà".

Vị anh hùng tụ nghĩa từ vỏn vẹn 19 người, đánh và tha giặc ngoại xâm với tầm nhìn bang giao sáng suốt - Ảnh 11.

Chân dung Lê Thái Tổ - tranh sơn dầu của Hoàng Hoa Mai.

Còn Việt giám thông khảo tổng luận thì bình xét, ngợi ca công nghiệp của vua khai nghiệp nhà Hậu Lê là: "Đọc sự tích sáng nghiệp của Thái Tổ Cao Hoàng Đế bản triều thì nghĩ đến sự nếm mật nằm gai xiết bao lo nghĩ; nhớ đến công gội mưa chải gió lắm nỗi gian truân, xét mưu kế hay nhất để lập trị giữ nước, khôi phục ý đồ lâu dài để trị nước nuôi dân, quy mô xa rộng của thánh triều có thể thấy rõ được. Từ đó thì thánh học càng thêm cao sáng, cõi thánh càng thêm sâu xa, đạo trị càng thêm tôn thịnh, để vì trời đất mà lập đạo tâm, vì cương thường mà định hạn, vì sinh dân mà đặt vận mệnh, mở nền thái bình cho ức vạn đời, để cho thế nước vững như Thái Sơn, bàn thạch, dắt sinh dân lên chiếu đệm ấm êm, thì cơ đồ sự nghiệp to lớn của đế vương cùng với trời đất dài lâu mãi mãi".

Đánh giá về nghiệp đế của Lê Thái Tổ, Việt sử mông học đủ cả công nghiệp và hạn chế khi có lời:

Bình Định vương xưng đế
Mọi việc được ban hành.

Vẻ vang nền độc lập
Tự do và hòa bình
Sau 6 năm vua mất,
Dựng nghiệp bao công trình.

Nhưng công thần bị giết,

Là điều đáng phê bình.

* Đọc các câu chuyện lịch sử qua lời kể của tác giả Trần Đình Ba tại đây.

Đọc thêm về:

    Bạn đọc có thể báo tin, gửi bài viết, clip, ảnh về email khampha@ttvn.vn để nhận nhuận bút cao trong vòng 24h. Đường dây nóng: 0943 113 999

    Soha
    Trí Thức Trẻ
      Công ty Cổ phần VCCorp

      © Copyright 2010 - 2021 – Công ty Cổ phần VCCorp

      Tầng 17,19,20,21 Toà nhà Center Building - Hapulico Complex,
      Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
      Email: btv@soha.vn
      Giấy phép số 2411/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 31 tháng 07 năm 2015.
      Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Thế Tân

      Liên hệ quảng cáo:
      Hotline: 0942.86.11.33
      Email: giaitrixahoi@admicro.vn
      Hỗ trợ & CSKH:
      Tầng 20, tòa nhà Center Building, Hapulico Complex,
      số 1 Nguyễn Huy Tưởng, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
      Tel: (84 24) 7307 7979
      Fax: (84 24) 7307 7980
      Chính sách bảo mật

      Chat với tư vấn viên