Từ tiếng bật cười "ha ha" của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá

Minh Đức |

Từ tiếng bật cười "ha ha" của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá
Từ tiếng bật cười "ha ha" của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá
Mối quan hệ Mỹ-Trung đã có một sự chuyển biến đầy biến động dưới thời Donald Trump. Minh họa: Lau Ka-kuen

Kỷ nguyên mới của sự cạnh tranh và mất lòng tin này cần đàm phán thực tế, thậm chí là tàn nhẫn.

Bài học Chiến tranh Lạnh cho ngoại giao Mỹ-Trung

Năm 1948, các nhà ngoại giao của Tổng thống Mỹ Harry Truman đã tiếp cận các đại diện của Joseph Stalin với đề nghị thảo luận về nhiều vấn đề chia rẽ Hoa Kỳ và Liên Xô. Nhà cầm quyền Liên Xô chỉ đáp lại bằng một tiếng bật cười "ha ha", và 40 năm Chiến tranh Lạnh bắt đầu từ đó.

Tình tiết đó dường như mới được tái hiện hồi tháng 3, khi đàm phán giữa các quan chức cấp cao Mỹ và Trung Quốc ở Alaska trở thành "một buổi phát sóng trên truyền hình về những bất bình". Cuộc "khẩu chiến" ở vùng đất băng giá này báo hiệu rằng sẽ không có "sự tái thiết lập" giữa Washington và Bắc Kinh; một giai đoạn cạnh tranh nhịp độ cao đang bắt đầu. Nhưng lịch sử Chiến tranh Lạnh cho thấy ngoại giao vẫn có thể đóng một vai trò quan trọng, nếu các quan chức Mỹ coi đàm phán như một công cụ để cạnh tranh hơn là một sự thay thế cho nó.

Cho dù ông Stalin cự tuyệt, ngoại giao vẫn là một phần cố định của Chiến tranh Lạnh. Mỗi tổng thống Mỹ đã gặp người đồng cấp Liên Xô của mình trong ít nhất một hội nghị thượng đỉnh. Các siêu cường đã đàm phán các hiệp ước kiểm soát vũ khí, trung lập hóa các quốc gia tiền tuyến, và thậm chí hợp tác về việc không phổ biến vũ khí hạt nhân và xóa sổ bệnh đậu mùa.

Từ tiếng bật cười ha ha của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá - Ảnh 1.

Ảnh: Bloomberg

Các cuộc thảo luận không chính thức đã giúp kết thúc Chiến tranh Triều Tiên, giảm leo thang khủng hoảng và kiểm soát căng thẳng. Trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, Ronald Reagan và George H.W. Bush đã thành công kéo Mikhail Gorbachev vào chính sách ngoại giao bền vững, hiệu quả đáng kể.

Lịch sử đàm phán trong bối cảnh cạnh tranh này chỉ ra một số bài học thích đáng.

Thứ nhất, ngoại giao thường khó nhất khi nó tỏ ra hữu ích nhất. Về lý thuyết, thời điểm tốt nhất để đặt các giới hạn ngoại giao đối với một cuộc cạnh tranh đang gia tăng là ngay từ đầu, trước khi sự cạnh tranh đó đạt được một động lực nguy hiểm. Trên thực tế, giai đoạn đầu của cạnh tranh thường là một bài kiểm tra sức mạnh. Các ranh giới được thúc đẩy và các lợi thế được tìm kiếm, khi các đối thủ thăm dò quyết tâm và sức mạnh của nhau.

Do đó, giai đoạn Chiến tranh Lạnh giảm căng thẳng những năm 1970 chỉ bắt đầu sau một số vụ xung đột gần tới mức thảm khốc - đặc biệt là cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 - đã cho các siêu cường có cái nhìn thoáng qua về địa ngục hạt nhân mà sự cạnh tranh không bị hạn chế có thể dẫn đến.

Ngày nay, các cuộc trao đổi đầy thử thách ở Alaska, cùng với nhịp độ nhanh chóng của các động thái và sự đối phó lại các đông thái ở Tây Thái Bình Dương, gợi ý rằng chúng ta có thể một lần nữa phải đối mặt với một giai đoạn nguy hiểm đáng sợ trước khi "các quy tắc ứng xử" được thiết lập và căng thẳng cùng giảm ở eo biển Đài Loan hoặc Biển Đông.

Từ tiếng bật cười ha ha của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá - Ảnh 2.

Ông Kennedy gặp ông Nikita Khrushchev tại Hội nghị thượng đỉnh Vienna vào tháng 6 năm 1961. Ảnh: History.com

Thứ hai, ngoại giao có thể phản tác dụng khi nó gửi sai thông điệp. Trong những dịp riêng biệt, Dwight Eisenhower và John Kennedy đã cố gắng thuyết phục Nikita Khrushchev rằng họ quyết tâm tránh chiến tranh hạt nhân và tìm cơ sở cho hòa bình. Tuy nhiên, những gì Khrushchev nghe được lại là "phương Tây sợ đối đầu" và điều đó khuyến khích Liên Xô thúc ép mạnh hơn. Kết quả là một thời kỳ "bên miệng hố chiến tranh hạt nhân", điều đã góp phần thúc đẩy các cuộc khủng hoảng nguy hiểm nhất diễn ra sớm hơn - ở Berlin và sau đó là Cuba - của thời hậu chiến.

Chính quyền Biden dường như hiểu bài học này. Quan điểm không tìm kiếm sự tái thiết lập ngoại giao ở Alaska, và vạch ra rõ ràng nơi hành vi của Trung Quốc xung đột với lợi ích của Mỹ, có lẽ là để đảm bảo Bắc Kinh không hiểu sai cuộc họp như một dấu hiệu cho thấy Washington đã dao động trong cam kết cạnh tranh của mình.

Thứ ba, "hòa bình thông qua sức mạnh" không phải là một lời nói sáo rỗng. Mỹ đã thành công nhất khi lần đầu tiên củng cố vị thế địa chính trị của mình và sau đó sử dụng đòn bẩy kết quả để đàm phán các thỏa thuận về các điều khoản có lợi.

Stalin đồng ý với các cuộc đàm phán cuối cùng kết thúc Chiến tranh Triều Tiên chỉ sau khi Washington ổn định chiến trường vào năm 1951. Vào những năm 1980, Reagan đạt được thỏa thuận giải trừ hạt nhân có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử - Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân Tầm trung (INF) - bằng cách lần đầu tiên triển khai hàng trăm tên lửa đó tới Tây Âu. Chìa khóa để đàm phán thành công là cho bên kia thấy rằng giải pháp thay thế cho thỏa thuận là một điều gì đó tồi tệ hơn.

Cuối cùng, ngoại giao không phải là một giải pháp thay thế cho cạnh tranh; nó là một phương tiện để theo đuổi cạnh tranh hiệu quả hơn.

Từ tiếng bật cười ha ha của Stalin tới bài học Chiến tranh Lạnh cho quan hệ Mỹ-Trung giữa thời kì buốt giá - Ảnh 3.

Ảnh: Financial Times

Cho đến khi Liên Xô sụp đổ vào cuối những năm 1980, đàm phán không thể vượt qua những khác biệt về địa chính trị và ý thức hệ - những thứ đã châm ngòi cho Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, ngoại giao có thể làm giảm chi phí tài chính và nguy cơ quân sự của sự cạnh tranh. Nó có thể trấn an công chúng Mỹ và các đồng minh của Mỹ rằng Washington chân thành tìm kiếm hòa bình, khiến họ có nhiều khả năng sẽ tiếp tục hỗ trợ các khoản đầu tư và khó khăn cần thiết để tiến hành chiến tranh lạnh. Ngoại giao cũng có thể tạo ra những khoảng dừng vô cùng cần thiết vào những thời điểm khi nước Mỹ kiệt quệ về mặt chiến lược.

Đây là ưu điểm của chính sách hòa hoãn mà ba tổng thống đã theo đuổi trong những năm 1970, trong đó có các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí và các nỗ lực khác nhằm kiềm chế sự cạnh tranh giữa Mỹ và Liên Xô. Chính sách đó không bao giờ thay đổi Chiến tranh Lạnh, nhưng nó đã mang lại cho Washington một thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi sau thất bại ở Việt Nam.

Và thất bại cuối cùng của nó, được giới hạn bởi cuộc xâm lược Afghanistan của Liên Xô vào năm 1979, đã giúp thuyết phục công chúng Mỹ và châu Âu tiếp tục kiềm chế trong những năm 1980.

Đoạn lịch sử này có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược của Mỹ ngày nay. Dự kiến một giai đoạn nguy hiểm trong tương lai gần, điều này có thể - nếu Mỹ giữ vững lập trường trước các cuộc thử nghiệm và khiêu khích của Trung Quốc - cuối cùng sẽ mang lại sự tỉnh táo cho phép ngoại giao mang tính xây dựng hơn.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, sẽ không cần phải trả chi phí để theo đuổi việc tái thiết lập hoặc những thỏa thuận lớn; tốt hơn hết là tập trung vào các lĩnh vực hẹp nhưng quan trọng, chẳng hạn như biến đổi khí hậu là lĩnh vực có thể hợp tác. Bằng cách củng cố các liên minh và đầu tư vào các công cụ cạnh tranh địa kinh tế và công nghệ, Mỹ có thể tạo ra vị thế sức mạnh có thể mang lại lợi ích ngoại giao trong tương lai.

Quan trọng nhất, ngoại giao nên được coi là một công cụ cạnh tranh theo đúng nghĩa của nó - một cách quản lý các liên minh chính trị và ngoại giao quan trọng, giữ cho chi phí và rủi ro của sự cạnh tranh có thể kiểm soát được và giúp Mỹ gắn bó với một chiến lược cạnh tranh cơ bản đủ lâu để nó hoạt động.

Cuộc đàm phán "băng giá" ở Alaska không nhất thiết sẽ kết thúc quan hệ ngoại giao Trung-Mỹ. Nhưng đó là một lời nhắc nhở rằng ngoại giao phải được nhìn nhận một cách tàn nhẫn và thực tế như bất kỳ khía cạnh nào khác của cạnh tranh Mỹ-Trung./.

Đọc thêm về:

    Đọc tin tức mới và tin nóng nhất tại Soha.Bạn đọc có thể báo tin, gửi bài viết, clip, ảnh về email thegioi@ttvn.vn để nhận nhuận bút cao trong vòng 24h. Đường dây nóng: 0943 113 999

    Soha
    Trí Thức Trẻ
      Công ty Cổ phần VCCorp

      © Copyright 2010 - 2021 – Công ty Cổ phần VCCorp

      Tầng 17,19,20,21 Toà nhà Center Building - Hapulico Complex,
      Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
      Email: btv@soha.vn
      Giấy phép số 2411/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 31 tháng 07 năm 2015.
      Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Thế Tân

      Liên hệ quảng cáo:
      Hotline: 0942.86.11.33
      Email: giaitrixahoi@admicro.vn
      Hỗ trợ & CSKH:
      Tầng 20, tòa nhà Center Building, Hapulico Complex,
      số 1 Nguyễn Huy Tưởng, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
      Tel: (84 24) 7307 7979
      Fax: (84 24) 7307 7980

      Chat với tư vấn viên