TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt

TS. Nguyễn Quốc Thục Phương |

TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt
TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt

Khi có nhiều người hoang mang về tác dụng phụ của vaccine COVID-19, một tiến sĩ người Việt tại Mỹ sẽ giải thích chi tiết về tất cả tác dụng và rủi ro của hai loại vaccine AstraZeneca và Pfizer.


Giữa tình hình dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát ở nhiều địa phương trên cả nước trong những tuần qua, vaccine COVID-19 và những câu hỏi xung quanh vấn đề tiêm chủng đã trở thành tiêu điểm của rất nhiều tranh luận nóng bỏng.

Tiêm chủng tối thiểu 75% dân số được xem là giải pháp hàng đầu giúp đưa đất nước trở lại cuộc sống bình thường. Dù vaccine còn khan hiếm và chỉ mới hơn 1% dân số được tiêm ít nhất một liều (tính đến 4/6/2021), nhiều người vẫn không khỏi hoang mang, lo lắng về việc có nên tiêm chủng hay không trước các thông tin về tác dụng phụ của vaccine và sự xuất hiện liên tục của các biến thể.

Liệu rủi ro đi kèm với vaccine có xứng đáng để chấp nhận không? Vaccine có tác dụng bảo vệ đối với biến thể đang lưu hành và các biến thể tương lai hay không? Có nên chờ đợi để lựa chọn loại vaccine hay nên tiêm chủng càng sớm càng tốt?

Bài viết sau đây của TS Nguyễn Quốc Thục Phương (Nghiên cứu Đáp ứng miễn dịch tại Đại học Rochester, New York, Hoa Kỳ) tập trung giải đáp những thắc mắc liên quan đến hai loại vaccine mà Việt Nam đã đặt mua với lượng lớn (trên 30 triệu liều): AstraZeneca (tên mới là Vaxzevria) và Pfizer.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

 Đầu tiên, cần nắm vững nguyên tắc hoạt động của vaccine AstraZeneca và Pfizer

Cả hai loại vaccine đều hoạt động bằng cách chuẩn bị cho cơ thể tự bảo vệ chống lại COVID-19. Bằng hai công nghệ khác nhau, hai loại vaccine đưa gen tạo ra protein gai của SAR-CoV-2 vào tế bào trong cơ thể. 

Vaccine AstraZeneca sử dụng một loại virus (adenovirus) vô hại đã được sửa đổi, trong khi vaccine Pfizer dựa trên công nghệ mRNA. Protein gai là một loại protein trên bề mặt của SARS-CoV-2 cần thiết để virus xâm nhập vào tế bào vật chủ.

Các tế bào sẽ sử dụng gen để tạo ra protein gai của virus. Sau đó, hệ thống miễn dịch của người được tiêm chủng sẽ nhận ra protein này là ngoại lai và sản xuất kháng thể và kích hoạt các tế bào T (tế bào bạch cầu) để tấn công protein gai này, mô phỏng đáp ứng miễn dịch khi mắc bệnh. 

Như vậy, kháng thể và tế bào T có thể được xem là hai cơ chế phòng thủ chính của cơ thể chống lại COVID-19 sau khi tiêm chủng.

TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt - Ảnh 3.

Hình 1: Cách hoạt động của vaccine COVID-19 mARN

Adenovirus trong vaccine không thể sinh sản và không gây bệnh. Cả hai loại vaccine đều không làm thay đổi DNA của người được tiêm chủng.

Vaccine bảo vệ đến mức nào?

Các vaccine được duyệt hiện nay đều được phát triển dựa trên virus ban đầu xuất hiện ở Vũ Hán (Trung Quốc). Các thử nghiệm lâm sàng trên vài chục ngàn người và những số liệu thực tế sau lâm sàng cho thấy hai vaccine đều có hiệu quả bảo vệ cao.

Cụ thể, trong các thử nghiệm lâm sàng trên 30.000-40.000 người tình nguyện khỏe mạnh, vaccine Pfizer có hiệu quả bảo vệ 95% khỏi nhiễm bệnh có triệu chứng và bảo vệ hoàn toàn khỏi tử vong.

Khi tiêm chủng đại trà, bao gồm cả người cao tuổi, người bệnh, hiệu quả của vaccine Pfizer vẫn vượt xa kỳ vọng. Hiệu quả thực tế của vaccine Pfizer dựa trên dữ liệu từ hệ thống khảo sát quốc gia tại Israel được công bố trên tạp chí uy tín Lancet gần đây.

Đất nước Israel triển khai tiêm chủng diện rộng với vaccine Pfizer từ rất sớm. Sau bốn tháng triển khai tiêm chủng, 72% người dân trên 16 tuổi (4,7 triệu/6,5 triệu dân) đã hoàn thành hai mũi Pfizer.

Tính từ 7 ngày sau khi được tiêm mũi thứ hai, vaccine Pfizer có hiệu quả bảo vệ 95% khỏi nhiễm virus có triệu chứng, 91% khỏi nhiễm virus không triệu chứng, 97% khỏi bệnh nặng phải nhập viện và 97% khỏi tử vong do COVID-19.

TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt - Ảnh 6.

Một học sinh được tiêm vắc xin COVID-19 tại trường Trung học Amal ở thành phố Beersheba, miền nam Israel, ngày 17/3/2021. Nguồn: Timesofisrael.com

Hiệu quả bảo vệ của vaccine AstraZeneca đạt khoảng 76% chống lại nhiễm virus có triệu chứng trong thử nghiệm lâm sàng trên những người tình nguyện khỏe mạnh. Ngoài ra, vaccine AstraZeneca cũng bảo vệ hoàn toàn khỏi bệnh COVID-19 nghiêm trọng và tử vong trong các thử nghiệm lâm sàng. 

Hiện chưa có dữ liệu về hiệu quả bảo vệ trong thực tế của vaccine AstraZeneca. Để so sánh, hiệu quả bảo vệ trung bình của vaccine cúm mùa hàng năm vào khoảng 40%-60%.

Vaccine có bảo vệ khỏi các biến thể đang lưu hành hoặc biến thể trong tương lai hay không?

Các vaccine phát triển dựa trên virus từ Vũ Hán vẫn bảo toàn hiệu quả bảo vệ đối với biến thể Anh (còn gọi là biến thể Alpha theo hệ thống tên gọi mới của WHO).

Hiệu quả này giảm đi một ít đối với biến thể Ấn Độ (biến thể Delta). Một nghiên cứu ở Anh so sánh hai biến thể Anh và Ấn Độ cho thấy: vaccine Pfizer có hiệu quả 93% đối với biến thể Anh và 88% đối với biến thể Ấn Độ, trong khi vaccine AstraZeneca có hiệu quả 66% đối với biến thể Anh và 60% đối với biến thể Ấn Độ.

Hiệu quả bảo vệ của các vaccine giảm mạnh nhất đối với biến thể Nam Phi, nhưng biến thể này không lưu hành mạnh tại Việt Nam trong giai đoạn này.

Lưu ý rằng hiệu quả của vaccine thay đổi trong các nghiên cứu khác nhau do đối tượng nghiên cứu có thể bao gồm các thành phần dân số khác nhau như người cao tuổi, người có bệnh nền, tình trạng chăm sóc y tế, v.v…

Như vậy, dù những báo cáo ban đầu cho thấy lượng kháng thể trung hòa (được xem là thước đo quan trọng cho hiệu quả của vaccine trong các thử nghiệm) có giảm đi đối với các biến thể xuất hiện sau này thì hiệu quả bảo vệ của vaccine vẫn còn ở mức cao.

Nguyên nhân được cho là cơ chế phòng thủ thứ hai của hệ miễn dịch – các tế bào T – vẫn bảo toàn khả năng nhận diện virus cho dù virus có thể "né" được kháng thể.

TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt - Ảnh 8.

Khi ít nhất 75% dân số được tiêm vaccine, miễn dịch cộng đồng được hình thành và đây là giải pháp tốt nhất (nhấn mạnh: nhưng không phải duy nhất - theo WHO) để có lại một cuộc sống bình thường như trước đại dịch. Nguồn: Probonoaustralia.

Trong tương lai, khi xuất hiện nhiều biến thể mới ngày càng xa dần virus Vũ Hán ban đầu, hiệu quả các vaccine có thể sẽ giảm đáng kể và vaccine có thể cần được cập nhật hàng năm như vaccine cúm mùa. 

Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn cho rằng những người đã tiêm chủng vẫn sẽ được bảo vệ một phần khỏi COVID-19, đặc biệt là đối với bệnh nặng hoặc tử vong.

Những người từng nhiễm bệnh COVID-19 có nên tiêm chủng COVID-19 không?

Những người từng nhiễm bệnh COVID-19 vẫn nên tiêm chủng. Nguyên nhân là do mức độ bệnh COVID-19 ở các cá nhân khác nhau rất đa dạng, hệ miễn dịch chống virus SARS-CoV-2 được tạo ra ở mỗi người bệnh đều khác nhau.

Một số trường hợp bệnh trung bình đến nặng, lượng kháng thể tạo ra được duy trì ở mức cao. Nhóm bệnh nhân này được cho là có thể tránh tái nhiễm trong khoảng 3-6 tháng.

TS Việt tại Mỹ: Khả năng bảo vệ trước biến thể của vaccine AstraZeneca, Pfizer và lời khuyên cho người Việt - Ảnh 10.

Các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để giúp tăng cao sự bền vững của hiệu quả bảo vệ của vaccine. Ở một số loại bệnh, hiệu quả bảo vệ của vaccine gần như là suốt đời. Nguồn: sciencemag.org

Trái lại, nghiên cứu ở Israel cho thấy những người từng mắc bệnh COVID-19 vẫn có tỉ lệ tái nhiễm tương đương với người chưa từng mắc bệnh. Ngoài ra, không ít trường hợp tái nhiễm bị bệnh nặng hơn so với lần nhiễm bệnh đầu.

Rủi ro khi chích vaccine

Tính đến thời điểm này, đã có hàng chục triệu mũi AstraZeneca và hàng trăm triệu mũi Pfizer được tiêm trên toàn thế giới. Hầu hết hiệu ứng phụ sau khi tiêm chủng thường chỉ tạm thời trong vài giờ đến vài ngày như đau cánh tay, nhức đầu, mệt mỏi, sốt, đau khớp, buồn nôn, tiêu chảy.

Tuy nhiên, đã có những hiệu ứng phụ nghiêm trọng được báo cáo cho vaccine COVID-19.

Vaccine AstraZeneca có thể gây ra hội chứng thuyên tắc huyết khối kèm giảm tiểu cầu (sự hình thành cục máu đông trong mạch máu song song với tình trạng giảm tiểu cầu, còn gọi là TTS).

Tình hình tiêm chủng COVID-19 trên thế giới

Theo thống kê của Bloomberg, tính đến ngày 4/6/2021 đã có 2,06 tỉ liều vaccine được tiêm tại 176 nước trên toàn thế giới. Các nước dẫn đầu về tỉ lệ dân số hoàn thành lịch tiêm chủng gồm Israel (57%), Mỹ (41%) và Anh (40%), hoặc tiêm ít nhất một mũi gồm Israel, Thụy Sĩ, Anh (60%), Canada, Chile (57%), Hungary (53%), Mỹ (51%). Trong khối Đông Nam Á, Singapore đã hoàn thành tiêm chủng cho 31% dân số, trong khi Indonesia đạt 4% và Philippines 1%.

Dựa theo số liệu từ hơn 20 triệu liều AstraZeneca đã được tiêm ở Anh, tỉ lệ xảy ra tình trạng TTS nghiêm trọng (máu đông hình thành ở não và bụng) là 4 người trên 1 triệu người tiêm chủng (tỉ lệ 0,0004%). 

Tình trạng này cũng xảy ra đối với vaccine Johnson & Johnson – một loại vaccine khác dựa trên adenovirus, nhưng không xảy ra đối với vaccine dựa trên công nghệ mRNA như Pfizer và Moderna.

Hội chứng TTS xảy ra nhiều hơn ở nữ ở độ tuổi dưới 45 và ít xảy ra ở nam giới. Tuy nhiên, gần đây một trường hợp nam 31 tuổi bị hội chứng TTS một tuần sau khi tiêm vaccine AstraZeneca cũng vừa được ghi nhận ở Chile. Nguyên nhân và yếu tố rủi ro dẫn tới hội chứng TTS ở người tiêm chủng vẫn đang được nghiên cứu.

Để so sánh, COVID-19 cũng gây máu đông với tỉ lệ cao: 7,8% người mắc bệnh COVID-19 bị thuyên tắc phổi và 11,2% bị huyết khối tĩnh mạch sâu.

Vaccine Pfizer được xem là khá an toàn, nhưng gần đây đã có những báo cáo về tình trạng viêm cơ tim (myocarditis) ở một số thanh niên trong độ tuổi 16 đến 30 sau khi tiêm chủng vaccine Pfizer liều thứ hai tại Israel. 

Tỉ lệ mắc bệnh là 55 người trên 1 triệu người (0,0055%). Hầu hết những người mắc bệnh đều được xuất viện trong vòng bốn ngày. Mối liên hệ giữa vaccine và tình trạng viêm cơ tiêm đang được các quốc gia theo dõi và nghiên cứu.

Có nên chờ đợi để được tiêm chủng loại vaccine mong muốn?

Với tỉ lệ lây nhiễm tại Việt Nam được xem là ở mức thấp trên thế giới, không quá khó hiểu khi một bộ phận người dân vẫn đắn đo khi đưa ra quyết định liên quan đến vaccine COVID-19. 

Có nhiều lý do khiến một số người ngần ngại tiêm chủng, nhất là đối với vaccine AstraZeneca sau những thông tin về hội chứng TTS.

i) Ở Việt Nam tỉ lệ lây nhiễm trong cộng đồng thấp, nguy cơ nhiễm bệnh chưa thấy nhưng đã thấy rủi ro bị hiệu ứng phụ.

Đúng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, những người được ưu tiên chích vaccine là những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn so với cộng đồng chung. Vì vậy, cần xem xét nguy cơ nhiễm bệnh của từng nhóm đối tượng và diễn biến dịch bệnh trong nước khi cân nhắc đưa ra quyết định.

ii) Tiêm chủng xong vẫn có thể mắc bệnh, nhất là với các biến thể mới.

Đúng. Người được tiêm chủng vẫn có thể mắc bệnh. Vì vậy, trước khi các cơ quan chức năng cho phép dỡ bỏ các biện pháp giãn cách xã hội, người tiêm chủng vẫn cần tiếp tục thực hiện hướng dẫn 5K của Bộ Y tế. 

Ngoài ra, dù người tiêm chủng vẫn có khả năng mắc bệnh, nhưng các vaccine đã được chứng minh sẽ làm giảm đáng kể số ca bệnh nặng, nhập viện và tử vong do COVID-19, kể cả đối với các biến thể mới. Điều này có nghĩa rằng người tiêm chủng vẫn được bảo vệ một phần.

iii) Tôi sẽ đợi để được tiêm chủng vaccine Pfizer với hiệu quả cao hơn thay vì tiêm vaccine AstraZeneca bây giờ.

Cần xem xét nguy cơ nhiễm bệnh và tình trạng sức khỏe của từng cá nhân để đưa ra quyết định. Hầu hết các chuyên gia y tế cho rằng khi vaccine còn khan hiếm, việc tiêm chủng sớm dù với vaccine hiệu quả thấp hơn vẫn có lợi hơn so với việc chờ đợi vaccine hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, có một số cách để nâng cao hiệu quả bảo vệ của vaccine AstraZeneca như: kéo dài thời gian giữa hai lần tiêm chủng từ 4 lên 12 tuần (được áp dụng ở Anh) hoặc chích mũi nhắc lại là vaccine Pfizer sau khi chích mũi đầu tiên AstraZeneca. 

Cách tiêm chủng kết hợp nhiều loại vaccine đang được thử nghiệm trên khoảng 600 người và nhận được kết quả bước đầu rất đáng khích lệ: lượng lớn kháng thể trung hòa được sinh ra sau khi người tình nguyện được chích một mũi AstraZeneca và một mũi Pfizer.

iii) Dù rủi ro chỉ là vài người trên một triệu người, nhưng nếu chẳng may người đó là tôi thì sẽ ra sao?

Thật không may, đây là rủi ro đi kèm với vaccine. Những người có lịch sử bị hội chứng TTS khi tiêm chủng thì không nên sử dụng vaccine AstraZeneca.

Trong thời gian tới, nếu được lựa chọn tiêm chủng kết hợp thì đây có thể là một giải pháp làm giảm rủi ro đi kèm với mỗi loại vaccine.

Ngoài ra, việc khoanh vùng đối tượng tiêm chủng để giảm rủi ro cũng bắt đầu được áp dụng trên thế giới. Ngày 4/6/2021, hãng Reuters đưa tin Bộ Y tế Chile đưa ra khuyến nghị tiêm chủng liều AstraZeneca thứ hai cho những ai đã nhận liều tiêm chủng AstraZeneca thứ nhất. 

Tuy nhiên, chính phủ Chile đã nâng độ tuổi khuyến nghị của người tiêm chủng lên 45 tuổi cho cả nam và nữ sau khi phát hiện một trường hợp nam thanh niên 31 tuổi bị triệu chứng TTS bảy ngày sau khi nhận liều AstraZeneca đầu tiên. Trước đó, vaccine AstraZeneca từng được khuyến nghị cho nam trên 18 tuổi và nữ trên 45 tuổi.

Lời khuyên của chuyên gia

Tại Việt Nam, việc tiêm chủng vaccine COVID-19 đến nay vẫn là lựa chọn cá nhân. Tuy nhiên với tình hình dịch diễn biến phức tạp, những quyết định liên quan đến việc tiêm chủng nên được đưa ra dựa trên hiểu biết đúng về lợi ích và rủi ro của từng loại vaccine. 

Trong khi chờ đợi vaccine đại trà, biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ bản thân và gia đình vẫn là nghiêm túc tuân thủ các biện pháp 5K, góp phần chặn đứng sự lây lan dịch bệnh trong cộng đồng trước khi quá muộn.

TS. Nguyễn Quốc Thục Phương (Nghiên cứu Đáp ứng miễn dịch tại Đại học Rochester, New York – Trưởng Dự án Thực phẩm Cộng đồng)

Dự án "Thực phẩm Cộng đồng" https://thucphamcongdong.vn/ cung cấp kiến thức khoa học thường thức, chính xác, khách quan và đáng tin cậy về thực phẩm, dinh dưỡng và sức khoẻ cho người Việt với mong muốn lan tỏa tri thức, chung tay vì sức khỏe cộng đồng.

Hệ thống kiến thức của Dự án được tổng hợp, biên phiên dịch và cập nhật thường xuyên từ nguồn thông tin khoa học uy tín, chuẩn xác bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước đang làm việc trong lĩnh vực Công nghệ Thực phẩm và các ngành liên quan.


Đọc thêm về:

    Bạn đọc có thể báo tin, gửi bài viết, clip, ảnh về email songkhoe@ttvn.vn để nhận nhuận bút cao trong vòng 24h. Đường dây nóng: 0943 113 999

    Soha
    Trí Thức Trẻ

    TIN NỔI BẬT SOHA

      Công ty Cổ phần VCCorp

      © Copyright 2010 - 2021 – Công ty Cổ phần VCCorp

      Tầng 17,19,20,21 Toà nhà Center Building - Hapulico Complex,
      Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
      Email: btv@soha.vn
      Giấy phép số 2411/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 31 tháng 07 năm 2015.
      Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Thế Tân

      Liên hệ quảng cáo:
      Hotline: 0942.86.11.33
      Email: giaitrixahoi@admicro.vn
      Hỗ trợ & CSKH:
      Tầng 20, tòa nhà Center Building, Hapulico Complex,
      số 1 Nguyễn Huy Tưởng, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
      Tel: (84 24) 7307 7979
      Fax: (84 24) 7307 7980

      Chat với tư vấn viên