Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi 'dòng code cơ bản', kẻ tra tấn hiện hình!

Minh Tuấn |

Nghiên cứu chỉ ra rằng 36% trẻ em bị tra tấn đã tử vong, và việc tra tấn có thể kéo dài lên đến 8 năm.

Vụ việc bé V.A 8 tuổi bị mẹ kế bạo hành, tử vong diễn ra chưa lâu, còn gây nhiều bức xúc trong dư luận, thì một sự việc khác đã xuất hiện: Một bé gái tên là A., 3 tuổi, bị nghi phạm Nguyễn Trung Huyên, là tình nhân của người mẹ, găm 9 chiếc đinh vào đầu. Trước đó, bé còn bị ít nhất 3 lần hành hạ nghiêm trọng khác (bị cho uống độc, nuốt đinh vít, bị đánh gãy tay). Nguyễn Trung Huyên đã bị bắt khẩn cấp để điều tra.

Tại sao lại có những kẻ thủ ác có thể tàn nhẫn với trẻ em đến vậy, chúng đã nghĩ gì? Bài viết dưới đây phân tích nhiều sự kiện tương tự cùng với lý giải của các chuyên gia tâm lý, có thể phần nào trả lời cho câu hỏi trên.

THỦ PHẠM KHÔNG PHẢI AI XA LẠ

Giả sử, nếu hình dung con người như một cỗ máy hoàn hảo, thì sự cảm thông và động lực chăm lo cho trẻ em sẽ là những dòng code hay câu lệnh tối cơ bản. Khi những câu lệnh này gặp lỗi - tức là khi chính những người chở che, bao bọc trẻ lại trở thành những kẻ tra tấn - thì sẽ rất khó để hiểu, chưa nói tới bước giải thích.

Năm 2007, bộ phim "Tội ác Mỹ" (tựa gốc: An American Crime) gây chấn động người xem khi kể về cô gái 16 tuổi Sylvia Likens bị người mẹ nuôi Gertrude Baniszewski tra tấn và sát hại đầy tàn bạo. Điểm đặc biệt của bộ phim này nằm ở chỗ nó dựa trên những tình tiết tàn bạo có thật xảy ra năm 1965 tại ngôi nhà ngoại ô bang Indiana, Mỹ.

Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi dòng code cơ bản, kẻ tra tấn hiện hình! - Ảnh 2.

Vụ án tra tấn và sát hại dã man Sylvia Likens năm 1965 được dựng thành phim.

Khi bạo lực giữa người với người có xu hướng giảm dần theo thời gian và sau khi tội ác của Baniszewski đã bị phanh phui hơn 50 năm, nước Mỹ lại một lần nữa dậy sóng trước vụ án Turpin: Một cặp vợ chồng cùng nhau giam cầm, bỏ đói, đánh đập và bóp cổ 13 người con ruột của chúng, trong nhiều năm liền...

Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi dòng code cơ bản, kẻ tra tấn hiện hình! - Ảnh 3.

Vụ án "The Turpin Case": Bề ngoài hạnh phúc của gia đình với 13 đứa trẻ. Ảnh: The Sun

Các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý pháp y phải nỗ lực để tìm hiểu hoàn cảnh từng gia đình, và cả điều khó khăn hơn, chính là động cơ của kẻ thủ ác. Mục đích của họ là để giúp ngăn chặn, hoặc ít nhất là giảm thiểu những thảm kịch tiếp theo.

Tâm lý học pháp y là một lĩnh vực mà trong đó sẽ áp dụng các nguyên tắc của tâm lý học vào tư pháp hình sự và luật pháp.

Các nhà tâm lý học pháp y sẽ tham vấn các nhà thực thi pháp luật để đưa tâm lý học vào cả các vấn đề hình sự và dân sự. Trách nhiệm của các nhà tâm lý học pháp y bao gồm việc lựa chọn thành viên bồi thẩm đoàn, đánh giá nhân chứng và đánh giá sức khỏe tâm thần.

(Tạm dịch từ bài viết của Đại học Maryville)

Bằng chứng cho thấy, góc tăm tối nhất trong các vụ án bạo hành trẻ em đó là những người có trách nhiệm chăm lo cho trẻ lại là những người có tỷ lệ phạm tội cao nhất.

Theo Hệ thống Dữ liệu Quốc gia Mỹ về Ngược đãi và Bỏ bê Trẻ em (NCANDS), thủ phạm của 71,8% các vụ ngược đãi và bỏ bê trẻ năm 2015 chính là cha mẹ của nạn nhân. 

Nghiên cứu của Cục Thống kê Úc năm 2005 cũng đưa ra kết quả tương tự: Ngoài những vụ án xâm hại tình dục, những kẻ có hành vi bạo lực với trẻ nhiều nhất, không ai khác là chính cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ. 

ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NẠN BẠO HÀNH?

Nghiên cứu của NCANDS chỉ ra các nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất dẫn đến hành vi bạo hành hoặc bỏ bê trẻ bao gồm: Lạm dụng rượu bia, ma túy, hoặc bạo lực gia đình. 

Tuy nhiên, các yếu tố này không thể dùng để giải thích cho một số trường hợp kẻ thủ ác không hề nghiện ngập, hoặc họ thực hiện hành vi phạm tội không phải một cách bộc phát mà có tính toán và có chủ đích, có thể thấy qua hành vi chuẩn bị phương tiện phạm tội như đi mua thuốc sâu để hạ độc.

Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi dòng code cơ bản, kẻ tra tấn hiện hình! - Ảnh 5.

Bên trái là ảnh chụp X-quang đầu bé A. cho thấy 9 dị vật găm vào bên trong vỏ não, bên phải là ảnh chụp nghi phạm Nguyễn Trung Huyên.

Priscilla Dass-Brailsford, Phó Giáo sư 1 tại Khoa Tâm thần học, đồng thời là nhà tâm lý học chuyên về thương chấn, cho rằng: "Theo kinh nghiệm của tôi, cha mẹ phạm tội thường mắc bệnh lý tâm thần [...] Có lẽ họ đang bị trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt. Bản thân một số bậc cha mẹ có thể cũng chính là nạn nhân bị bạo hành khi còn nhỏ, tôi nói ra điều này một cách thận trọng, vì đó không phải là cái cớ để ngược đãi con cái".

Ông David Finkelhor, giáo sư xã hội học và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tội ác với Trẻ em tại Đại học New Hampshire, nhận thấy cha mẹ mắc tội còn có thể rơi vào 2 kiểu khác, đó là trạng thái hoang tưởng (Delusional states, tức là có những niềm tin trái với thực tế) và trạng thái sợ hãi hoang tưởng (Paranoid states, giả dụ là luôn lo sợ rằng có người mưu hại mình); từ đó, dẫn đến các hành vi phi lý trí và ngược đãi.

Một hệ tư tưởng sai trái cũng có thể là một nguyên nhân giải thích cho sự bạo hành. Giáo sư Finkelhor nói: "Các bậc cha mẹ có thể tự suy nghĩ rằng họ đang bảo vệ con cái mình khỏi sự thối nát của một xã hội tồi tệ, hoặc rằng con cái của họ hư hỏng và cần phải bị trừng phạt, đưa vào lề lối".

Theo lẽ thường, con cái khi còn nhỏ phải nghe lời bố mẹ. Khi chúng không nghe lời thì đó được coi là một hành động vô lễ, khiến bố mẹ mất thể diện. Theo cách giải thích của Phép lịch sự trong Ngôn ngữ học thì việc đứa con không nghe lời được coi là một hành động đe dọa tới thể diện của bố mẹ.

Elizabeth Skowron là giáo sư tâm lý học và đang nghiên cứu tại Prevention Science Institute (tạm dịch: Viện Khoa học Phòng ngừa) thuộc Đại học Oregon, cho rằng, còn có một yếu tố khác có thể dẫn đến việc hành hạ trẻ em, đó là trạng thái mà bà gọi là "quá nhạy cảm với các mối đe dọa" [đe dọa có thể là về mặt thể chất, tâm lý, thể diện...], thường thấy ở những cha mẹ hay dùng đòn roi. 

Bà Skowron bổ sung thêm: "Họ nhìn thế giới qua một lăng kính đầy rẫy những mối đe dọa, rằng 'Con tôi không vâng lời tôi'. Chỉ khi đứa trẻ tiếp tục nghe lời thì tôi mới có thể bình tĩnh lại được."

Thật vậy, trong một số tình huống khi mà những bố mẹ như vậy phải thể hiện vai trò làm cha làm mẹ, bà Skowron cho rằng họ sẽ trở nên căng thẳng. Tốt hơn hết (ở góc nhìn của bố mẹ) thì cứ mạnh tay xử lý, để lời nói của họ có trọng lượng trở lại.

Một nguyên nhân ít thấy khác dẫn đến hành vi tàn độc với trẻ, rút ra được từ điều tra vụ án đâm kim vào người bé gái 11 tháng tuổi ở Trung Quốc năm 2014, đó là mê tín dị đoan. Theo quan niệm vô căn cứ ở một vài vùng quê nước này, nếu người phụ nữ đâm kim vào cơ thể một bé gái thì sau đó cô ta có thể đẻ con trai!

TRA TẤN LÀ HÌNH THỨC BẠO HÀNH TÀN ÁC NHẤT

Trong số những sự bạo hành trẻ, tra tấn là hình thức tàn ác nhất. Năm 2014, một nghiên cứu chuyên sâu về hành vi tra tấn trẻ được thực hiện tại Mỹ đã mở ra một số gợi mở cho câu trả lời về tâm lý tội phạm. 

Với tựa "Tra tấn, một hình thức bạo hành trẻ em" (bản gốc: Child Torture as a Form of Child Abuse"), nghiên cứu đề cập về 28 trường hợp trẻ phải chịu bạo hành về thể chất, bỏ bê, tra tấn và ngược đãi tâm lý, chẳng hạn như dọa nạt, ngăn cách đứa trẻ với anh chị em (VD: cấm anh chị em chơi với đứa bé đó).

Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng 36% trẻ em bị tra tấn đã tử vong, và việc tra tấn có thể kéo dài lên đến 8 năm

Tác giả của nghiên cứu cho rằng tra tấn khác biệt với các hành vi bạo hành khác. Những tội khác thường bắt nguồn từ cơn nóng giận bất chợt không kiểm soát hoặc mất kiềm chế ở người chăm sóc trẻ. Trái lại, tra tấn là hành vi dường như diễn ra lâu hơn và thường nhằm mục đích ghi lên tâm trí đứa trẻ sự thống trị và kiểm soát của hung thủ. Tra tấn vốn được thực hiện để "phá" [sức chịu đựng] một người cả về mặt thể chất lẫn tâm lý.

Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi dòng code cơ bản, kẻ tra tấn hiện hình! - Ảnh 7.

Hình ảnh phim chụp của bé.


Có lẽ học thuyết toàn diện nhất về khuynh hướng tâm lý khiến một người trở thành kẻ tra tấn là do Ervin Staub, nhà tâm lý học tại Đại học Massachusetts, đề xuất. Theo ông, nền tảng tâm lý cơ bản của kẻ tra tấn là chia thế giới thành hai nhóm "chúng ta" và "bọn họ", biện minh cho mọi hành động sai trái. Việc này có lẽ bắt nguồn từ những kẻ tra tấn thời Hy Lạp xưa, khi chúng tự quây quần, sinh sống khăng khít với nhau, sử dụng ngôn ngữ riêng để gọi những thiết bị hoặc các mánh tra tấn; chúng cũng tự đặt biệt danh cho nhau và gọi những người không cùng hội là "lạc loài".

Cụm từ The Poor White hoặc The Poor Southern White, tạm dịch là Những người da trắng nghèo khổ ở miền Nam nước Mỹ, được sử dụng phổ biến từ khoảng đầu thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, ám chỉ những người phương Tây thuộc tầng lớp dưới, không sở hữu nô lệ cũng chẳng sở hữu đất đai, nhìn chung là nghèo.

Ông Ervin Staub viết rằng: "Hạ thấp giá trị và nhân phẩm của nhóm khác cho phép người ta cảm thấy mình quan trọng hơn, có giá hơn. Ví dụ, những người da trắng nghèo khổ ở miền Nam nước Mỹ, những người đã phải trải qua cuộc sống nghèo khổ, tủi nhục có thể nâng cao lòng tự trọng của họ khi so mình với người da đen; một bộ phận người Đức thời Đức Quốc xã có thể tương tự, cảm thấy mình ở vị thế hơn so với người Do Thái".

Các tác giả của nghiên cứu chuyên sâu về tra tấn trẻ em đề cập ở trên cũng nhận thấy điều tương tự, rằng những kẻ tra tấn tỏ ra rất ít hoặc không hề hối hận. Thay vào đó, hầu hết các thủ phạm đều đổ lỗi cho nạn nhân là nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực, biện minh bằng sự cần thiết của kỷ luật và trừng phạt. Thông thường, những thủ phạm như vậy nhận thấy nghĩa vụ thiêng liêng là phải kỷ luật nạn nhân của họ một cách hà khắc. Không giống như những kẻ bạo hành khác, hầu hết thủ phạm tra tấn đều thú nhận một phần tội ác của mình; tuy nhiên, trong lúc thú nhận thì họ cũng đã tự nói giảm hoặc hợp lý hóa hành vi của họ.

Ông Robert Jay Lifton, bác sĩ tâm thần tại Đại học John Jay, thuộc Đại học Thành phố New York, đã nghiên cứu 28 bác sỹ người Đức đã tham gia trong các chương trình y tế của Đức Quốc xã. Một số bác sĩ mà tiến sĩ Lifton nghiên cứu trực tiếp tham gia làm việc tại những trại giam giữ người Do Thái - nơi mà đội ngũ y tế sẽ phải theo dõi toàn bộ quá trình giết người bị giam giữ. Ngoài nhóm bác sĩ này, số còn lại thì tham gia vào một chương trình khác, cũng liên quan đến việc giết hại người.

Dù các bác sĩ mà ông Lifton nghiên cứu đều không phải những kẻ tra tấn, nhưng ông Lifton lại cảm thấy rằng cách mà các bác sĩ này có thể điều chỉnh tâm lý của mình [khi thì bình thường, khi thì ác độc] cũng đã tự cho thấy họ mang bản chất của những kẻ tra tấn.

Ông Lifton cho biết rằng: "Tôi thật sự kinh ngạc trước khả năng một người có thể tự phân mình thành những người khác nhau, lúc là một kẻ tra tấn, lúc là một người đàn ông bình thường của gia đình". Ông gọi tên hiện tượng tâm lý này là "Doubling" (tạm dịch: Phân thân). Ông nói: "Phân thân là chìa khóa để làm việc ác. Điều này lý giải làm sao người ta có thể làm như vậy [ác độc] mà vẫn sống bình thường".

Lý giải của ông Lifton chỉ ra nguyên nhân những người tra tấn có thể duy trì cuộc sống thường nhật trong mắt người khác.

Ngoài ra, Tiến sỹ Ervin Staub còn cho rằng hành động tra tấn tàn ác với nạn nhân cũng được thúc đẩy bởi một nhu cầu tâm lý của xã hội, đó là niềm tin "thế giới này công bằng". Hệ quả mà các nhà tâm lý học xã hội nhận thấy, đó là, những kẻ tra tấn coi nạn nhân là tự rước khổ vào mình, cho rằng họ (nạn nhân) xứng đáng với những gì họ đang gánh chịu. Theo Tiến sỹ Staub, lối suy nghĩ như vậy càng khuyến khích kẻ tra tấn ngược đãi nạn nhân thêm nữa.

NHỮNG CON SỐ KINH HOÀNG CÒN TIẾP DIỄN

Từ vụ găm 9 đinh vào đầu bé 3 tuổi: Lỗi dòng code cơ bản, kẻ tra tấn hiện hình! - Ảnh 9.

Ảnh mang tính minh họa.

Nghiên cứu ở Mỹ năm 2014 nói trên còn cho thấy rằng ngăn cách trẻ em với xã hội lại tạo điều kiện cho việc tra tấn diễn ra dễ dàng hơn: 89% trẻ chỉ được tiếp xúc với thành viên trong gia đình; và 75% trẻ thậm chí từng bị biệt giam.

Tiến sỹ Allison Jackson, trưởng bộ phận của Trung tâm Bảo vệ Trẻ em và Vị thành niên tại Bệnh viện Quốc gia dành cho Trẻ em ở Washington, cho biết: "Các tình huống căng thẳng có thể là nguyên nhân dẫn đến khả năng phán đoán kém và phản ứng bốc đồng".

Năm 2021, nghiên cứu đã thực hiện khảo sát trên 39.000 trẻ em ở 9 trung tâm trị liệu chấn thương nhi khoa tại Mỹ, trong đó có 2.064 trường hợp nghi ngờ bị bạo hành.

Bác sỹ Katherine Flynn-O'Brien tại Bệnh viện Nhi Wisconsin (Milwaukee, Wisconsin), đồng thời cũng là tác giả của cuộc nghiên cứu, cho biết: "Chấn thương phổ biến nhất được xác định là chấn thương đầu, sau đó là một loạt các chấn thương ở ngực, bụng, tứ chi và bị bỏng". 

Bà bổ sung thêm rằng đây rõ ràng là một tiếng chuông cảnh báo cho y tế công.

Bà Katherine thêm vào: "Trong bối cảnh dịch bệnh vẫn hoành hành gây nhiều thiệt hại cho cả nước, rất cần phải có các biện pháp bảo vệ như các dịch vụ an sinh xã hội, nhất là với các hộ gia đình nghèo và dễ bị tổn thương."