Cần làm gì để sống chung an toàn với virus SARS-CoV-2? Ba chuyên gia chia sẻ bí quyết hướng tới cuộc sống "bình thường mới"

PV |
Cần làm gì để sống chung an toàn với virus SARS-CoV-2? Ba chuyên gia chia sẻ bí quyết hướng tới cuộc sống "bình thường mới"
Cần làm gì để sống chung an toàn với virus SARS-CoV-2? Ba chuyên gia chia sẻ bí quyết hướng tới cuộc sống "bình thường mới"

Buổi toạ đàm sẽ bàn về những giải pháp của chính phủ và người dân nên làm để có một cuộc sống "bình thường mới" an toàn với virus SARS-CoV-2, đồng thời học hỏi những kinh nghiệm của những quốc gia đi trước.

Sau gần 2 năm xuất hiện với những diễn biến phức tạp khó lường trên phạm vi toàn cầu, đại dịch Covid-19 đến hiện nay vẫn tiếp diễn với sự xuất hiện liên tục của các biến thể SARS-CoV-2 mới. Đặc biệt, với sự xuất hiện và chiếm lĩnh "cuộc chơi" của biến thể Delta, cục diện về dịch Covid dường như đã thay đổi. Hầu hết các nước trên thế giới và ngay cả Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phải thay đổi quan điểm ứng phó dịch bệnh từ "Zero Covid" sang "sống chung an toàn với Covid".

Tại Việt Nam, từ khi xảy ra đợt dịch thứ 4, nhiều chuyên gia nhận định, dịch sẽ không biến mất. Song song với công cuộc chống dịch, chính phủ đã triển khai những chiến dịch phủ vaccine thần tốc tại TP HCM, Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác. Với tỷ lệ tiêm vaccine cao ở 2 thành phố lớn như Hà Nội (100%) và TP HCM (98,2%), chúng ta đang đứng ở ngưỡng cửa nới lỏng các biện pháp giãn cách, tiến dần tới tình trạng "bình thường mới" và sống chung an toàn với Covid-19.

Buổi toạ đàm với chủ đề "Sống chung an toàn với virus SARS-CoV-2: Cần làm gì?" sẽ bàn về những giải pháp của chính phủ và người dân nên làm để có một cuộc sống "bình thường mới" an toàn với virus SARS-CoV-2, đồng thời học hỏi những kinh nghiệm của những quốc gia đi trước.

Các khách mời của chương trình:

- TS.BS Vũ Thị Thu Nga, từ Liên minh vận động phát triển chính sách y tế dựa trên bằng chứng khoa học (EBHPD), nguyên giảng viên đại học Y Hà nội, TS dịch tễ học từ đại học New SouthWales Australia.

- TS.BS Trần Tuấn, giám đốc trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển Cộng đồng (RTCCD), Liên hiệp các hôi khoa học và Kỹ thuật Việt nam; Thành viên nhóm tư vấn độc lập phát triển chiến lược tổng thể phòng chống hiệu quả dịch COVID-19, Bộ Y tế.

- TS. BS Phạm Nguyên Quý, Khoa Ung thư nội khoa, Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren, Đại học Kyoto, Nhật Bản, Đồng sáng lập Dự án Y học cộng đồng.

Dưới đây là một số nội dung chính của tọa đàm:

MC: Ngay từ khi dịch Covid-19 xuất hiện, chúng ta đã dự đoán được kịch bản lây lan toàn cầu. Nhưng đồng thời với điều đó, chúng ta luôn mong chờ đến ngày dịch bệnh kết thúc. Tổ chức Y tế Thế giới và các chuyên gia dịch tễ hàng đầu liên tục đưa ra những dự đoán về thời điểm kết thúc đại dịch Covid-19. Thế nhưng vào tuần trước (7/9) Giám đốc điều hành Chương trình Y tế khẩn cấp của WHO, Mike Ryan, đã đưa ra nhận định mới rằng khả năng cao là không thể loại bỏ hoàn toàn virus SARS-CoV-2 và Covid có thể sẽ là phần tất yếu của thế giới. Điều gì đã dẫn đến sự thay đổi về quan điểm này?

TS. BS Trấn Tuấn: Tôi phải xin nói luôn, không phải bây giờ chúng ta mới có thay đổi như thế này, mà ngay từ khi dịch bùng ra, đặc biệt là khi biến thể Delta xuất hiện, tốc độ lây lan kinh khủng như vậy.

Các nhà khoa học đã chỉ ra, đây sẽ là đại dịch và việc dịch xảy ra ở Vũ Hán không được phát hiện kịp thời, hơn nữa tốc độ di chuyển bằng hàng không rất lớn của mọi người trên toàn cầu rất kinh khủng, thì chắc chắn đại dịch này sẽ diễn ra trên toàn cầu.

Hơn nữa, năm 2015 các nhà khoa học đã dự đoán sẽ có đại dịch như thế này xảy ra, bởi vì trước đó đã có dịch SARS vào năm 2003, tiếp sau đó là nhiều biến thể của COVID thì việc bùng dịch là điều chắc chắn xảy ra.

Ngay từ đầu, các nhà khoa học cũng dự định chúng ta sẽ phải chịu đại dịch này, chỉ đến khi nào chúng ta bao phủ vaccine khoảng 75% tạo miễn dịch cộng đồng thì lúc đó dịch mới có thể dừng được hay không. Còn việc dịch kết thúc sớm hay muộn được hay không sẽ phụ thuộc vào việc chúng ta phụ thuộc vào việc có vaccine nhiều hay ít.

Ngay từ đầu các nhà khoa học đã nhìn nhận được diễn biến dịch phát triển như hiện tại. Và tại sao Việt Nam hiện tại mới có quan điểm này, bởi ở một số nước như Thụy Điển, các nước Bắc Âu trước đó đã khống chế dịch tạm thời, còn các nước vẫn cho ta thấy rằng việc Zero COVID là không thể nào. Quan điểm không có Zero COVID đã có ngay từ đầu, chỉ trừ một số nước như Úc, New Zealand mới dám tuyên bố như vậy.

BS Phạm Nguyên Quý: Có thể nói từ khi dịch COVID-19 xuất hiện, các bác sĩ tại Nhật Bản đã khẳng định 100% chúng ta đã phải chung sống với dịch, bởi vì sao? Nhìn từ tình hình thực tế, các biến thể virus SARS-CoV-2 được phát hiện ở người có những triệu chứng rất nhẹ, và thậm chí việc lây lan trong cộng đồng rất nhanh. Chính vì thế việc dẹp bỏ hoàn toàn COVID-19 trong cộng đồng là việc bất khả thi. Mặc dù chúng ta đã từng hy vọng vào hiệu quả của vaccine phòng COVID-19 nhằm đạt hiệu quả miễn dịch cộng đồng.

TS Thu Nga: Đối với biến chủng cũ, Việt Nam áp dụng biện pháp phong tỏa, truy vết,… thì dường như chúng ta đã thành công trong chuyện kiểm soát virus trong cộng đồng. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác như TS Trần Tuấn đã nói ở trên thì chúng ta có thể đạt được Zero COVID thành công. Đặc biệt khi vaccine đầu tiên đã đem lại niềm hy vọng lớn hơn nữa rằng chúng ta có thể kiểm soát được virus này.

Tuy nhiên, sự ra đời của biến chủng Delta đã làm thay đổi cục diện. Biến thể này lây lan gấp 65% biến thể cũ. Hơn nữa thời gian ủ bệnh của biến thể này đã rút lại thay vì trước đó là 5-7 ngày thì hiện tại giờ chỉ còn 2-3 ngày, người nhiễm đã xuất hiện triệu chứng. Thêm một ví dụ nữa là việc mặc dù chúng ta đã tiêm vaccine thì việc nhiễm COVID-19 hoàn toàn có thể xảy ra. Hàm lượng virus có thể bằng những người chưa tiêm vaccine. Đây là biến chủng khủng khiếp thay đổi cục diện nhiều nước.

Khái niệm Zero COVID đã phai nhạt đi rất nhiều vì biến chủng Delta. Kể cả những nước đã tiêm vaccine thành công như Anh cũng chứng kiến việc COVID-19 quay trở lại “tàn phá”. Nhiều Chính phủ trên thế giới đã khẳng định duy trì khái niệm Zero COVID-19 là không thể mà đã chuyển sang việc sống chung với dịch bệnh.

MC: Trên thế giới, có vẻ xu hướng “sống chung với virus” đã diễn ra từ lâu?

BS Trần Tuấn: Việc sống chung với virus, chúng ta đã sống từ lâu đời, chẳng hạn như dịch sởi, trước đó được xem là đại dịch, khiến rất nhiều người tử vong, tốc độ lan truyền của sởi còn hơn rất nhiều so với COVID. Nhưng khi có vaccine, việc miễn dịch của bệnh sởi phát huy tác dụng, nhiều người có miễn dịch suốt đời. Sởi chỉ là một trong những loại virus chúng ta phải sống chung, con người đã phải sống chung rất nhiều virus khác. Đến khi gặp COVID, chúng ta tưởng mới nhưng không phải. Hơn nữa virus không nằm trong môi trường mà nằm trong tế bào sống.

MC: Thưa BS Phạm Nguyên Quý, vậy còn ở Nhật Bản, tình hình dịch Covid-19 hiện nay ra sao? Vì sao nước Nhật phải tính đến việc sống chung an toàn với virus SARS-CoV-2?

Ở Nhật Bản quyết định sống chung đã từ 2 năm trước. Và hầu hết khoảng 80% bệnh nhân nhiễm COVID không có triệu chứng, hoặc có triệu chứng nhưng rất nhẹ. Chính phủ Nhật Bản đã xác định đại dịch này sẽ ảnh hưởng đến 5% dân số, chủ yếu là người già, người có bệnh nền sẽ dễ có nguy cơ tử vong so với người trẻ. Số người trẻ tử vong có nhưng rất hiếm.

Chính vì thế, Chính phủ Nhật sẽ không ra đòn quá nặng tay để người trẻ mất việc làm trong mùa dịch. Số liệu ở Nhật cho thấy việc cách ly nghiêm khắc sẽ làm gián đoạn, làm cho nhiều tầng lớp yếu thế về mặt kinh tế, gây mất nghề nghiệp, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến nhiều mặt khác, nên đã có nhiều chính sách làm sao để mọi tầng lớp có thể sống chung với COVID.

MC: Việt Nam chúng ta đã theo đuổi chính sách Zero Covid từ đầu mùa dịch và thực tế cho thấy, chúng ta đã thành công trong việc khống chế dịch, giữ được sự ổn định xã hội tương đối và giữ gìn nền kinh tế. Tuy nhiên, đến thời điểm này, chúng ta đã đặt ra vấn đề từng bước nới lỏng giãn cách xã hội và có các giải pháp sống chung với virus. Ý kiến của các chuyên gia ra sao về vấn đề này?

TS Thu Nga: Thời gian gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định lại quan điểm, chúng ta phải sống chung, thích ứng an toàn. Bộ Y tế đã phối hợp với các ban ngành liên quan có những hướng dẫn như hướng dẫn thích ứng an toàn, kiểm soát COVID hiệu quả. Việc chúng ta phải mở cửa là điều tất yếu, vì nhiều tháng qua các tỉnh thành đã áp dụng chỉ thị 16 đã làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân rất nhiều.

Để sống chung với COVID-19 trong tình hình hiện nay, tôi còn một số lo ngại: Mặc dù chúng ta đã có những hướng dẫn cụ thể, nhưng việc tiêm vaccine cho người trên 18 tuổi đạt 70% thì chỉ mới có Hà Nội, TP HCM, Bình Dương đã đạt, còn các tỉnh thành khác thì chưa đạt. Nếu mở cửa các tỉnh thành khác thì nguy cơ dịch xâm nhập trở lại ở các tỉnh rất cao.

Điều kiện cần và đủ là tỉ lệ tiêm vaccine và nâng cao năng lực cho hệ thống y tế như đảm bảo cung cấp oxy cho tuyến cơ sở, đảm bảo giường ICU để điều trị F0 nặng thì chúng ta chưa đạt được. Chính vì thế, tôi nhận định chúng ta đang ở trong tình thế mong manh, đặc biệt là lộ trình nới lỏng giãn cách từng bước chúng ta phải hết sức cẩn thận. Rất mong vaccine sớm có thể về để nâng cao tỉ lệ bao phủ, và khi vaccine về thì chúng ta nên ưu tiên cho nhóm người có nguy cơ, thì việc nơi lỏng và sống chung với COVID-19 sẽ khả quan hơn.