Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt |

Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Cửa Việt là trận đánh đặc biệt có một không hai.

Đó chính là trận phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh trả lại cuộc hành quân Tango City ngày 27 và 28.01.1973 của Quân đội VNCH tại Cửa Việt.

Trận đánh đặc biệt có một không hai

Sở dĩ nó được coi là trận đánh đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước bởi nó diễn ra vào một thời điểm hết sức đặc biệt: vào đúng ngày 4 bên ngồi vào bàn ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và căng thẳng đến tận thời điểm Hiệp định có hiệu lực.

Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Ảnh 1.

Đó cũng là một thời điểm đặc biệt vì đã là ngày 25 tháng Chạp năm Nhâm Tý - tức 25 Tết Quý Sửu. Là những ngày áp Tết và theo phong tục cổ truyền của người Việt Nam thì đó là những ngày tập trung chuẩn bị cho Tết Nguyên đán - ngày lễ trọng nhất trong năm của người Việt.

Nó còn đặc biệt bởi mục tiêu của trận đánh là cảng Cửa Việt - một vị trí có tầm quan trọng đặc biệt đối với chiến trường Quảng Trị và tuyến đường vận tải chiến lược 559.

Và nó càng đặc biệt hơn bởi chỉ là một trận đánh không lớn song nó đã được sự quan tâm sâu sắc, sự chỉ đạo sát sao của đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng (QGP).

Trận Cửa Việt trong hồi ký của Đại tướng

Thực hiện kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ" trong thời điểm ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, dưới sự cố vấn của các tướng lĩnh Mỹ, quân đội VNCH đã quyết định tiến hành cuộc hành quân Tango City nhằm tái chiếm Căn cứ hải quân Cửa Việt và vùng giải phóng Nam Cửa Việt đã lọt vào tay QGP từ tháng 4.1972.

Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Ảnh 2.

Chiến trường Quảng Trị khốc liệt.

Cuộc hành quân bắt đầu vào thời điểm 4 bên ngồi vào bàn ký kết Hiệp định tại Pa-ri, ngày 27.01.1973, và kéo dài đến 8 giờ ngày 28.01.1973 là thời điểm Hiệp định có hiệu lực. Về phía Quân giải phóng đã phản công lại hết sức mãnh liệt để bảo vệ cảng Cửa Việt và vùng giải phóng.

Thông thường, ở vị trí Tổng Tư lệnh, người chỉ huy tối cao của lực lượng vũ trang cả nước, với tầm nhìn toàn cục và khái quát toàn chiến trường thì thường chỉ chỉ đạo đến các chiến dịch hoặc những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định mà thôi.

Tuy nhiên, trận đánh này tuy quy mô không lớn song nó đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đại tướng Tổng Tư lệnh. Trong hồi ký "Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng" của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết:

"Hướng về miền Nam thân yêu, tôi tỏ lòng biết ơn đồng bào ruột thịt và các đồng chí Quân giải phóng anh hùng đã lập chiến công oanh liệt trên khắp chiến trường, phối hợp với quân và dân miền Bắc, cổ vũ mạnh mẽ đồng bào và chiến sĩ ta chiến thắng kẻ thù, Hiệp định Pa-ri được ký kết vào đúng dịp Tết Nguyên đán Quý Sửu.

Theo Hiệp định, đúng 8 giờ sáng ngày 28-1-1973, lệnh ngừng bắn sẽ có hiệu lực. Nơi ngừng tiếng súng sẽ là tuyến ranh giới giữa hai bên.

Chính trong đêm 27-1, cái đêm "bản lề" ấy, quân ngụy trắng trợn dùng toàn bộ pháo mặt đất trên hạm đội bắn vào trận địa của quân ta ở Cửa Việt (Quảng Trị).

Lợi dụng hỏa lực pháo binh, chúng cho 200 xe tăng, xe bọc thép và Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 từ Mỹ Thủy, Gia Đẳng đánh chiếm cảng. Chỉ trong một đêm, chúng đã chiếm lại vùng đất mà suốt mấy tháng chúng không sao chiếm lại nổi. Trong thực tế, cảng Cửa Việt đã rơi vào tay địch".

Tiếp đó, Đại tướng đánh giá về vị trí của cảng Cửa Việt và ý nghĩa của trận đánh này dưới cái nhìn tổng quát, toàn diện của một nhà cầm quân đại tài:

"Mất Cửa Việt, Đông Hà, Dốc Miếu, Quán Ngang bị uy hiếp trực tiếp. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn bị đe dọa. Thành quả của Chiến dịch Quảng Trị 1972 bị ảnh hưởng nghiêm trọng".

Khi tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận xin ý kiến thì Đại tướng Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo rất cụ thể, chi tiết:

"Anh Tấn báo cáo ra xin chỉ thị Bộ Tổng Tư lệnh, điện thoại hữu tuyến. Tôi đồng ý và dặn:

-Anh Tấn ơi! Các anh cho đánh chiếm lại ngay! Hãy đưa bằng được những đứa con khỏe mạnh của Đào Huy Vũ (ý nói các xe tăng T-54) sang nhé! Phải lấy lại bằng được!".

Đó không chỉ là mệnh lệnh mà còn là lời kêu gọi thiết tha. Không chỉ vậy, đó còn là chỉ đạo cụ thể về phương pháp tiến hành. Thật hiếm có trận đánh nào chiếm được sự quan tâm như vậy của Tổng hành dinh.

Chấp hành chỉ thị của Tổng Tư lệnh, Mặt trận đã điều 1 đại đội xe tăng T-54 của Trung đoàn 203 sang bờ Nam đánh địch. Ngày 31.01.1973, mặc dù chỉ có 1 chiếc sang được song do quân địch đã quá mệt mỏi, sợ hãi nên nhanh chóng tan rã. Vùng giải phóng được khôi phục như trước ngày 25.01.

Trận đánh và cái Tết đặc biệt có một không hai trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Ảnh 4.

Xe tăng T-54. Ảnh minh họa.

Cái Tết đặc biệt

Đó chính là cái Tết Quý Sửu - 1973.

Nó đặc biệt bởi sau mấy chục năm chiến tranh, đây là cái Tết hòa bình đầu tiên đã về với nhân dân ta trên cả hai miền Nam Bắc. Lần đầu tiên sau mấy chục năm, người dân được đón cái Tết trong hòa bình, yên ổn, không phải nơm nớp lo sợ bom rơi, đạn lạc.

Nó đặc biệt bởi lần đầu tiên sau mấy chục năm bắn nhau chí tử, trong những ngôi "nhà hòa hợp" được dựng lên tại ranh giới giữa hai vùng, binh lính hai bên có thể nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của những người đồng bào mà không dùng đến súng đạn, chia sẻ với nhau ấm trà, điếu thuốc và các đặc sản hai miền để đón Xuân.

Đối với chiến trường Quảng Trị thì nó lại càng đặc biệt bởi phải đến tận ngày 31.01.1973 - tức ngày 28 Tết Quý Sửu thì tiếng súng mới ngừng nổ ở nơi đây...

Và bởi nó là một cái Tết đặc biệt nên đêm giao thừa của nó cũng hết sức đặc biệt. Tại khu vực Quảng Trị, trong giờ phút giao thừa Nhâm Tý - Quý Sửu, đã có hàng trăm tấn đạn đã được binh sĩ hai bên gửi lên trời thay cho những tràng pháo chào mừng năm mới.

Về chủng loại thì từ loại nhỏ nhất như đạn súng trường, tiểu liên đến loại trung trung như 12 ly 7, 14 ly 5 và lớn hơn nữa là pháo cao xạ 37mm, 57 mm,... rồi bộc phá, lựu đạn các loại và pháo sáng (đèn dù) ngợp trời.

Đặc biệt đến nỗi vị Phó Tư lệnh Mặt trận sau này kể lại: "Đêm hôm đó, khi đi kiểm tra các đơn vị ở vùng giáp ranh, ngồi trên xe mà tôi phải đội mũ sắt. Hôm sau kiểm tra, cái bạt xe con thủng lỗ chỗ".

Đúng là đặc biệt thật!