Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng

Trang Ly |

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng
Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng
Ảnh minh họa về những chất độc (tự nhiên, nhân tạo) mạnh trong lịch sử.

Khoảnh khắc chết chóc ùa đến, hàng nghìn người không kịp phản ứng. Nét mặt đau khổ tựa hồ lá phổi bị hàng nghìn mũi kim đâm chọc. Họ chết đuối ngay trên cạn!

Khi những người thợ săn thời tiền sử nhúng mũi tên thô sơ của họ vào nọc rắn để đi săn những con thú to lớn -  Lần đầu tiên trong lịch sử, loài người chúng ta biết biến những "món quà cực độc của tự nhiên" phục vụ cho những lợi ích riêng của chính mình. Kể từ đây, rất nhiều câu chuyện đã xảy ra suốt chiều dài lịch sử liên quan đến chất độc...

Alfred Swaine Taylor (1806-1880), chuyên gia độc chất học thế kỷ 19, "Cha đẻ của pháp y Anh" từng nói: "Chất độc với liều lượng nhỏ là một loại thuốc, và một loại thuốc với liều lượng lớn lại là chất độc".

Các chất độc cổ điển như hemlock (độc cần), nightshade (cây cà dược), aconite (ô đầu), foxglove (dương địa hoàng), opium (thuốc phiện) và strychnine (mã tiền) được sử dụng để điều trị một loạt bệnh, từ lạnh đầu đến các bệnh tim, và thậm chí còn được dùng để trang điểm. Các kim loại độc hại như thủy ngân, chì và asen là thành phần trong các loại thuốc đặt trên các kệ hàng dược vào cuối thế kỷ 20.

Chừng nào chúng ta cần chữa trị và phục vụ lợi ích riêng thì chất độc (dù là chiết xuất tự nhiên hay do con người tạo ra) còn cám dỗ con người chừng đó. Lịch sử đã minh chứng điều này...

VUA ĐỘC

Ngay từ đầu, chất độc đã là công cụ ám sát dưới thời của các hoàng đế, pharaoh và vua khắp thế giới thời cổ đại.

Ở Ai Cập

Khoảng năm 1550 trước Công nguyên, người Ai Cập đã lưu lại nhiều công thức chế tạo chất độc bằng chữ tượng hình trong Ebers Papyrus, một trong những tài liệu y học sớm nhất thế giới. 

Người ta tin rằng, Menes - vị pharaoh Ai Cập đầu tiên được biết đến thuộc Thời kỳ Sơ triều đại của Ai Cập cổ đại, đã bị đầu độc bởi một chất độc chết người - Và người cai trị cuối cùng của vương triều cuối cùng thời Ai Cập cổ đại, là Nữ hoàng Cleopatra, cũng được cho là đã tự kết liễu đời mình bằng nọc rắn độc.

Ở Trung Quốc

Việc nghiên cứu và thử nghiệm chất độc đã giết chết "Cha đẻ ngành dược học Trung Quốc" Shen Nung (khoảng năm 2695 trước Công nguyên). 

Ông nổi tiếng vì đã nếm 365 loại thảo mộc và chết vì quá liều độc hại. Trước khi qua đời, ông đã viết chuyên luận "Thí nghiệm chất độc thảo dược học", đồng thời được dân chúng tôn thờ vì có công mang nông nghiệp đến Trung Quốc cổ đại. 

Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc - Tần Thủy Hoàng - cũng được cho là qua đời ở tuổi 49 vì nuốt thủy ngân (cực độc) với mong muốn được trường sinh bất tử.

Các nơi khác

Các nền văn minh cổ đại của Ấn Độ, Ba Tư và Hy Lạp đã sử dụng chất độc để ám sát các đối thủ vì lợi ích chính trị (những người cai trị Mughal của Ấn Độ sẽ "tặng" kẻ thù của họ những chiếc áo choàng có tẩm thuốc độc), để xử tử tội phạm (triết gia Hy Lạp cổ đại Socrates bị kết án uống chất độc của độc cần); và thậm chí thuốc độc còn được sử dụng để mang đến một "liều nhân đạo" cho người bệnh và người già được hưởng cái chết êm ái thời đó.

Vào thời La Mã, tình trạng nhiễm độc đã lan tràn đến mức "Lex Cornelia", một luật cổ của La Mã, đã ra đời để cấm người dân sử dụng các loại rượu độc để ám sát, hãm hại người khác. Tuy nhiên, câu chuyện chưa bao giờ được giải quyết.

Sáu vị hoàng đế La Mã đã bị kết liễu đời vì thuốc độc, bao gồm cả Hoàng đế Claudius, người đã bị chính vợ mình, Agrippina, giết hại để nâng cao vị thế của con trai bà là Nero, người sau đó đã quay lại và đầu độc người anh kế của mình để lên ngôi.

"Vua Độc"

Nhưng không có vị vua nào bị ám ảnh bởi chất độc nhiều như Vua Mithridates VI, người trị vì Pontos (Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại) hơn 2.000 năm trước. Sợ hãi vì bị ám sát bằng thuốc độc (nỗi ám ảnh hình thành khi thấy mẹ mình đầu độc cha), Mithridates VI điên cuồng tìm kiếm mọi loại thuốc giải độc đến nỗi lịch sử ghi nhớ ông là "Vua độc - Poison King".

Cực chẳng đã, Mithridates VI còn cố gắng tăng khả năng chịu đựng của mình bằng cách tiêu thụ một lượng nhỏ chất độc khác nhau cùng với nhiều loại thuốc giải độc thử nghiệm. Cuối cùng, ông đã nghĩ ra một công thức tuyệt mật được gọi là "Mithridatum". 

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 1.

Tác phẩm "Lọ thuốc Mithridate" này được tạo ra bởi nhà điêu khắc người Ý Annibale Fontana vào cuối những năm 1500, mô tả những cảnh trong cuộc đời của vua Mithridates VI, bao gồm cả cái chết khủng khiếp của ông ta dưới bàn tay của chính người lính của mình. Nguồn: SEPIA TIMES / GETTY IMAGES

Mithridatum được công chúng thèm muốn và được giữ kín cho đến khi tướng La Mã Pompey xâm lược Pontos và mang theo phương thuốc quý trở về Rome. Thất bại cay đắng, Mithridates VI đã cố gắng dùng thuốc độc để tự sát nhưng vì 'miễn nhiễm' với thuốc độc nên cuối cùng "Vua thuốc độc" phải nhờ đến cận thần ra tay. 

"Vua chất độc"

'Tua nhanh' đến thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên, câu chuyện về chất độc đã thay đổi cách nhìn của thế giới mãi mãi. 

Một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của Thời đại hoàng kim của Hồi giáo (kéo dài từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 14), nhà giả kim thuật Jabir ibn Hayyan (721-813), đã tạo ra một loại bột màu trắng chết người không mùi, không vị và hoàn toàn không thể phát hiện được trong cơ thể con người. Nó là một hợp chất gây chết người của asen, một nguyên tố tự nhiên và phổ biến, trở nên độc hại khi chuyển đổi thành asen trioxit (As2O3) hoặc asen trắng - Thời đó, asen là chất độc mạnh nhất, đáng sợ nhất.

Asen giết chết người bằng cách làm gián đoạn quá trình truyền năng lượng đến các tế bào khiến chúng bắt đầu chết đi và làm cho các chức năng cơ thể cơ bản bị phá vỡ. Với một liều lượng đủ cao, hoặc nếu tiêu thụ dần dần theo thời gian, các cơ quan quan trọng sẽ bắt đầu bị hỏng. Tác động của chất độc quái ác này trông rất giống bệnh tự nhiên, đặc biệt là vì các triệu chứng thông thường như nôn mửa và tiêu chảy, rất dễ bị nhầm với bệnh tả, bệnh kiết lỵ và các bệnh thông thường khác thời bấy giờ.

Trong hàng thiên niên kỷ tiếp theo, asen đã khiến cho việc phạm tội hoàn hảo, thậm chí dễ dàng diễn ra. Bột asen có thể được trộn vào ly rượu hoặc thức ăn mà không một ai biết vì phải mất hàng giờ, vài ngày hoặc thậm chí hàng tháng để bất kỳ triệu chứng nhiễm độc nào xuất hiện trong cơ thể nạn nhân. Ngay cả khi nghi ngờ có chất độc, cho đến thế kỷ 19 vẫn chưa có cách nào để phát hiện ra asen trong cơ thể sau khi chết.

Nhưng điều khiến asen - "Vua chất độc" trở nên chết người đó là nó rất gần gũi với con người. Trong nhiều thế kỷ, các nền văn minh đã sử dụng các hợp chất của nó trong y học. Nó đã được sử dụng trong y học Trung Quốc, được dùng bởi bác sĩ Hy Lạp Hippocrates, bởi các nhà giả kim thuật thời Trung Cổ để tìm kiếm thuốc trường sinh, và bởi các bác sĩ thế kỷ 18, những người đã chuyển sang một giải pháp dựa trên asen để điều trị mọi thứ từ bệnh suyễn đến bệnh giang mai.

PHÉP THUẬT THỜI TRUNG CỔ

Châu Âu trong thời Trung Cổ được đánh dấu bằng sự mê tín. 

Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, kiến ​​thức tiến bộ rất ít được phổ biến trong dân chúng trong vài thế kỷ tiếp theo, và văn hóa dân gian, tín ngưỡng tôn giáo và ma thuật đã thay thế nó. 

Điều tương tự không diễn ra ở trong thế giới Ả Rập, nơi khoa học và toán học phát triển mạnh mẽ. Dựa trên các văn bản của các triết gia Hy Lạp, nhiều nhà khoa học và bác sĩ Hồi giáo đã thử nghiệm các chất độc và thuốc giải độc, viết ra những văn bản có ảnh hưởng giúp nâng cao hiểu biết về lĩnh vực độc chất học.

Sự giàu có về kiến ​​thức này không đến được với phương Tây cho đến thế kỷ 13, nhưng các tu sĩ Cơ đốc giáo đã làm được nhiều hơn là sao chép những văn bản cổ này một cách có phương pháp. Vì vậy, châu Âu thời Trung Cổ không có phương pháp nào tốt hơn phương thuốc "Mithridatum" của "Vua độc" Mithridates VI - nhưng phương thuốc này được nhà vua gìn giữ như con ngươi.

Không còn biện pháp khoa học nào để sử dụng, nông dân, thương nhân và vua chúa đã chuyển sang những giải pháp kỳ diệu hơn.

Sỏi Bezoar (Dị vật dạ dày) là khối rắn của thức ăn hoặc chất xơ không tiêu được tìm thấy trong dạ dày của động vật - chỉ là thứ mà con người (một cách sai lầm) nghĩ rằng, thả vào đồ uống để vô hiệu hóa tác dụng của bất kỳ chất độc nào. Sỏi Bezoar phổ biến ở Ba Tư và các khu vực khác của châu Á và cuối cùng được buôn bán sang châu Âu.

Những "phương pháp chữa trị" khác bao gồm bùa hộ mệnh; cốc "chống độc" được lót bằng khoáng chất để gây nôn. Trong các triều đình của triều đại Trung Quốc và các vương quốc Hàn Quốc, người ta sử dụng đũa bạc để kiểm tra chất độc trong thức ăn và đồ uống của họ.

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 2.

Tác phẩm mô tả cái chết của Socrates. Người Athen (Hy Lạp) đã kết án tử hình nhà triết học nổi tiếng bằng cách cho ông uống một cốc độc cần. Nguồn: UNIVERSALIMAGESGROUP / GETTY IMAGES

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 3.

Bức tranh "A Glass of Wine with Caesar Borgia", 1893 của họa sĩ Anh John Collier. Nguồn: PRINT COLLECTOR / GETTY IMAGES

Nhưng đỉnh cao của tất cả các loại thuốc giải độc thời đó là chiếc sừng "kỳ lân" được đánh giá cao. Người ta mê tín nghĩ rằng những chiếc sừng dài của con thú thần thoại (thực ra là ngà của kỳ lân biển, sinh vật có thật) được cho là vừa có khả năng phát hiện chất độc vừa chống lại chất độc. Sừng kỳ lân cực kỳ được thèm muốn và có giá của một gia tài nhỏ, gấp 10 lần vàng. Những chiếc sừng quý giá này được tìm thấy trong các cung điện hoàng gia trên khắp châu Âu. Ở Đan Mạch, nhiều thế hệ thống trị thậm chí còn được đăng quang trên ngai làm bằng sừng thần thoại.

Khi châu Âu thoát khỏi Thời kỳ Tăm tối (Dark Ages), việc pha chế các loại độc dược ngày càng mạnh, thậm chí đã trở thành một nghệ thuật, và cũng giống như các loại hình nghệ thuật thời Phục Hưng khác, nghề thủ công này đã được làm chủ yếu ở Ý.

Nhiều thế kỷ sau khi phát minh ra asen trioxit (As2O3), các bác sĩ vẫn chưa biết cách điều trị - hoặc thậm chí phát hiện người bị nhiễm độc asen. 

Vào thế kỷ 19, các bác sĩ đã cố gắng xác định trong vô vọng xem nạn nhân có bị đầu độc asen hay không bằng cách ném những thứ trong dạ dày của họ vào lửa để xem chúng có mùi như tỏi hay không.

Cuối cùng, vào năm 1836, một nhà hóa học người Anh tên là James Marsh (1794-1846) đã đưa ra một phương pháp hóa học để phát hiện dấu vết nhỏ của asen trong mô người. Nó đã được đưa ra thử nghiệm trong phiên tòa xét xử vụ giết người một phụ nữ Pháp bị buộc tội cho chồng mình ăn bánh có asen. Cuối cùng, người phụ nữ này đã được chứng minh là có tội.

Nhiễm độc asen đã giảm đáng kể với sự phát triển của Thử nghiệm Marsh (lấy theo tên của nhà hóa học Anh James Marsh). Về sau, phương pháp này được các nhà khoa học cải tiến và sử dụng làm bằng chứng pháp y về nhiễm độc asen trong thế kỷ tới, mở ra kỷ nguyên độc chất học hiện đại.

VỤ ÁM SÁT CHẤN ĐỘNG THỜI THẾ CHIẾN I

Con người bắt đầu sử dụng chất độc trong chiến tranh từ hàng ngàn năm trước. 

Người bản địa Nam Mỹ đã sử dụng chất chiết xuất từ ​​thực vật và những con ếch có nọc độc để tạo ra phi tiêu độc. Người Scythia, bộ tộc du mục ở thảo nguyên Trung Á, nổi tiếng với những đầu mũi tên độc của họ, cũng như những người da đỏ đã sử dụng chúng để chống lại quân đội của Alexander Đại đế.

Người Trung Quốc cổ đại, Hy Lạp, La Mã, Ba Tư và Mông Cổ cũng sử dụng khí độc (thường là lưu huỳnh đốt cháy) để hun độc kẻ thù. 

Vào thế kỷ thứ 7, người Byzantine giới thiệu "Lửa Hy Lạp - Greek Fire", một chất lỏng cháy đáng sợ thường được gọi là "bom napalm cổ đại". Hóa chất có thể trôi nổi trên mặt nước và thiêu sống người trên tàu gỗ của họ. Chất độc cũng được thêm vào một vũ khí mới được phát minh ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 9: Thuốc súng.

Nhưng sự phát triển của ngành công nghiệp khiến các quốc gia có thể sản xuất và dự trữ vũ khí hóa học ở quy mô chưa từng có. 

168 tấn khí độc chết chóc

Sự nguy hiểm của khí chết người đã được hiểu một cách bẩm sinh rằng những vũ khí này đã bị cấm trước khi chúng được sử dụng. Nhưng chiếc hộp của Pandora đã được mở ra, và nó giải phóng một đám mây độc hại, chết chóc trên khắp Trái Đất.

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 4.

Quân đội Pháp đeo mặt nạ phòng độc trong trận Ypres lần thứ hai, tháng 4/1915. Ảnh: HULTON ARCHIVE

Vào lúc hoàng hôn ngày 22/4/1915, quân đội Đức mở 168 tấn khí clo trên trận địa đầy bom ở Ypres, Bỉ. Một sĩ quan Canada sau đó mô tả nó như một "bức tường khí chết chóc" "lan từ từ trên mặt đất, biến những chiếc lá chớm nở của cây cối, những bông hoa mùa Xuân và cỏ cây trở thành một màu trắng bệnh tật". Gió mang theo làn hơi xanh vàng về phía chiến hào của quân Đồng Minh, nơi quân đội đang đứng chờ bắn. Khoảnh khắc chết chóc ùa đến, quân đội Đồng Minh không kịp phản ứng, họ cảm thấy nóng rát ở mắt và cổ họng. Khí độc gây đau đớn dữ dội, mù mắt và cảm giác như bị bóp cổ. Hơn 5.000 quân đã thiệt mạng do ngạt thở.

Khung cảnh sau đó mà những người sống sót chứng kiến mới đáng sợ: Hàng nghìn người chết trong trạng thái đau đớn, họ xé toạc áo chỉ để muốn được cổ họng dễ thở hơn. Nét mặt đau khổ tựa hồ lá phổi bị hàng nghìn mũi kim đâm chọc. Họ chết đuối ngay trên cạn!

Khí độc khủng khiếp được phát triển bởi nhà hóa học người Đức gốc Do Thái Fritz Haber, một nhà khoa học được xem là "Cha đẻ của vũ khí hóa học". Fritz Haber đoạt giải Nobel Hóa học năm 1918 vì đã khám phá ra cách tổng hợp amoniac từ nitơ trong không khí, cho phép sản xuất hàng loạt loại phân bón nitơ - đã cách mạng hóa nông nghiệp và giúp nuôi sống hàng tỷ người trên toàn cầu.

Nhưng trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918), nhà hóa học này đã nhiệt tình áp dụng tài năng của mình vào thứ mà ông ta gọi là "hình thức giết người cao hơn". 

Chết đuối trên cạn: Giải mật vụ ám sát bằng chất độc chấn động lịch sử, 5000 người thiệt mạng - Ảnh 5.

Fritz Haber (trái) đã phát minh ra khí clo độc hại trong Thế chiến I. Công việc và phòng thí nghiệm của ông ta đã được Đức Quốc xã sử dụng trong Thế chiến II để tạo ra khí Zyklon B, gây ra cái chết của 1,1 triệu người, trong đó có nhiều người là người Do Thái. Ảnh: ANDREW LICHTENSTEIN / GETTY IMGAES

Fritz Haber đích thân giám sát việc triển khai giải phóng khí clo độc hại tại trận địa Ypres. Gần tối tháng 4, y đứng trước 6.000 chiếc xe tăng kim loại chứa đựng sự sáng tạo của y (khí ngạt). Khi cuộc pháo kích vừa chấm dứt, Fritz Haber hạ lệnh mở van. Gió hôm đó ủng hộ kế hoạch chết chóc của y. 168 tấn khí clo độc hại được thải ra thế giới.

Trong cuộc chạy đua vũ khí hóa học sau đó, ông ta đã dẫn đầu việc phát triển các loại hóa chất thậm chí còn gây chết người hơn khủng khiếp hơn: Khí mù tạt, một chất gây phồng rộp, đau đớn; và Phosgene (COCl2) - một hợp chất hóa học gây nghẹt thở, không chỉ 'đốt' cơ thể mà còn gây ra khủng bố tâm lý.

Vào cuối Thế chiến I, ước tính có khoảng 1,2 triệu người thương vong do vũ khí hóa học gây ra. Sau vụ tấn công bằng hơi ngạt tại Ypres, Fritz Haber được ca ngợi như một anh hùng ở Berlin (Đức). Một bữa tiệc được chuẩn bị thịnh soạn để đón tiếp y.

Trái ngược lại, có rất nhiều người ghê sợ khi chứng kiến chất độc đưa vào chiến tranh, trong đó có vợ của Fritz Haber - nhà hóa học nổi tiếng Clara Helene Immerwahr (1870 -1915), bà gọi đó là "dấu hiệu của sự man rợ, phá vỡ kỷ luật đáng lẽ phải mang lại những hiểu biết mới về cuộc sống". Ngay trong đêm tiệc, Clara Helene Immerwahr tự bắn vào tim mình.

Khi Adolf Hitler lên nắm quyền ở Đức, Fritz Haber bị tấn công vì dòng máu gốc Do Thái của mình. Người này trốn khỏi Đức vào năm 1933 và chết vì đau tim khi sống lưu vong. Không lâu sau, phòng thí nghiệm và công trình nghiên cứu của Fritz Haber đã được Đức Quốc xã sử dụng để phát triển Zyklon B, loại khí độc dùng để giết hàng triệu người Do Thái và những thường dân vô tội khác trong phòng hơi ngạt tại các trại tập trung - bao gồm cả các thành viên trong đại gia đình của Fritz Haber.

Sở dĩ, vụ ám sát chất độc khí clo của Fritz Haber gây chấn động bởi, đây có thể xem là lần đầu tiên chất độc được sử dụng trên quy mô lớn trong chiến tranh hiện đại (khiến 5.000 người tử vong), hơn nữa, nhân vật đứng đằng sau sự kiện này (Fritz Haber) và gia đình của ông ta cũng nhận kết cục tương tự vì khí độc.

KẺ GIẾT NGƯỜI TRONG CHIẾN TRANH LẠNH

Chất độc thời này đóng vai trò như một liều thuốc tự sát.

Là một hợp chất hóa học có thể ở dạng khí hoặc bột tinh thể, xyanua là một trong những chất độc hoạt động nhanh và mạnh nhất đang tồn tại. Xyanua đã được biết đến từ thời cổ đại, một hợp chất hydro xyanua được chưng cất vào thế kỷ 18 đã nhanh chóng gây chú ý vì khả năng giết người hiệu quả. Theo thời gian, nó đã trở thành loại thuốc được lựa chọn để tự sát trong Thế chiến II (1939-1945) và Chiến tranh Lạnh (1946-1991).

Cách này đã được giới chóp bu Đức Quốc xã sử dụng vào cuối Thế chiến II. Adolf Hitler và vợ Eva Braun được cho là đã tự đầu độc mình bằng xyanua trong một boongke ở Berlin. Sau đó, Hermann Göring (kẻ được mệnh danh là "Red Baron - Nam tước Đỏ") đã tự sát để tránh bị hành quyết sau khi hầu Tòa án Nuremberg bằng cách cắn một viên xyanua giấu trong miệng trong đêm trước khi lãnh án.

Cyanide cũng gần như trở thành đồng nghĩa với những viên thuốc tự tử nổi tiếng trong các bộ phim gián điệp. Trong phim, CIA và KGB đã cho các điệp viên uống thuốc L (L có nghĩa là "gây chết người") giấu trong răng để tự tử trong trường hợp bị bắt và tra tấn - tránh tiết lộ bí mật quốc gia. Thực chất, thuốc độc được giấu trong các ngăn bí mật trong thân kính đeo mắt hoặc trong bút máy, khi nhai những vật này sẽ giải phóng chất độc.

Trong những năm gần đây, chất độc thần kinh, hợp chất cơ phospho (organophosphates) có độc tính cao như khí Sarin, đã trở thành chất độc được lựa chọn. 

Ban đầu được phát triển trong Thế chiến II, những thứ pha chế chết người này đã được sử dụng bởi những kẻ khủng bố, độc tài và độc tài trên khắp thế giới, dẫn đến những âm mưu chính trị nham hiểm khiến "Vua chất độc" Mithridates VI khoảng 2.000 năm trước (nếu sống lại) có thể rơi vào những đêm mất ngủ triền miên...

Bài viết sử dụng nguồn: Popularmechanics, Asmalldoseoftoxicology, Medium

* Đọc bài cùng tác giả Trang Ly tại đây.

download app
Đọc thêm về:

    Đọc tin mới nhất, xem tin Khám phá thế giới nhanh nhất tại Soha.Bạn đọc có thể báo tin, gửi bài viết, clip, ảnh về email khampha@ttvn.vn để nhận nhuận bút cao trong vòng 24h. Đường dây nóng: 0943 113 999

    Soha
    Trí Thức Trẻ

    TIN NỔI BẬT SOHA

      Công ty Cổ phần VCCorp

      © Copyright 2010 - 2020 – Công ty Cổ phần VCCorp

      Tầng 17,19,20,21 Toà nhà Center Building - Hapulico Complex,
      Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
      Email: btv@soha.vn
      Giấy phép số 2411/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 31 tháng 07 năm 2015.
      Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Thế Tân

      Liên hệ quảng cáo:
      Hotline: 0942.86.11.33
      Email: giaitrixahoi@admicro.vn
      Hỗ trợ & CSKH:
      Tầng 20, tòa nhà Center Building, Hapulico Complex,
      số 1 Nguyễn Huy Tưởng, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
      Tel: (84 24) 7307 7979
      Fax: (84 24) 7307 7980

      Chat với tư vấn viên